Tam thập lục kế tẩu vi thượng sách, "đồng chí" Dương Chí Dũng cúng thần bái thánh rồi cao chạy xa bay nơi đâu chưa ai biết cả. Người ta hồ nghi có kẻ dĩ lậu tin tức cho "đồng chí" tẩu thoát kịp thời. Vị ấy chắc không ai khác, cũng một duột "các đồng chí ta" cả. Người mất của còn. Còn cái ụ nổi No83M hư nát trên cảng Gò Dầu, chi phí thuê chỗ, giữ, trực ban đã 30 tỷ và tiếp tục đều đặn "chi phí" 1,6 tỷ đồng mỗi tháng. Mưu kế mua ụ nổi quá đát Nga sô sản xuất năm 1965, làm căn cứ "cho ta có điều kiện vươn ra bể lớn" là con bài quen thuộc kiếm chác bạc tỷ để tiêu xài thả cửa. Theo công an điều tra, " Ụ nổi 83M là một ụ nổi cũ, bị hư hỏng nặng, không còn hoạt động, đã bị Cơ quan Đăng kiểm Nga dừng cấp phép kiểm định, quá thời hạn theo quy định là 22 tuổi, không đủ điều kiện nhập khẩu". Thế nên, ngày 8/10/2007, "đồng chí Dũng" ký quyết định "đầu tư" 14,136 triệu USD, kéo cái ụ nát Nga sô ấy từ Nakhodka về nước Nam sửa chữa, đội giá lên tới 24,3 triệu USD, rồi không sử dụng được, tiếp tục trả tiền phí chờ ngày xả ra bán sắt phế liệu.
Xem ảnh chân tướng "đồng chí tẩu thoát", tự nhiên sanh sự gợi cảm về mấy con mối. Cái ụ nổi nó có bà con ngôn ngữ cái ụ mối để liên tưởng bọn mối phá nhà chăng ? Chuyện ụ mối như sau : Mối là giống côn trùng đông đúc nhất thế giới. Chúng sống thành từng bầy, có con mối vua đứng đầu, có bọn mối tướng phò tá, có bầy mối lính bảo vệ, có tập đoàn mối thợ làm lụng nuôi bầy đảng mối. Loài mối ăn gỗ để sống. Chúng kéo nhau đi tìm mấy cái nhà gỗ đục khoét, cắn phá cột kèo, rui mèn cửa ngõ, chỉ trong vài ngày ăn là sập nhà rụi cửa. Nhà nào có bọn mối kéo đến thăm hỏi coi như mạt vận, tàn tạ gấp gáp. Cơ ngơi của mối ở mấy ụ mối, gò mối nổi bờ tre bụi hóp, ven rừng ven rú cây khô gỗ mục. Từ cái ụ mối đùn, xuất phát từng đoàn quân mối, rầm rộ kéo nhau mở lối nhà hoang, thiên hạ sợ hãi.
Dẫu im lìm dú diếm hay kêu rêu cầu thông cảm thời ai cũng có nỗi khổ riêng tư cả. Ông khổ, bà khổ, cha khổ, mẹ khổ, chị khổ, anh khổ, con cái cháu chắc khổ. Khổ đến lân lý đồng bào, cả thầy cả bạn đều cho thấy có sự khổ. Sự khổ bao trùm thế gian nên Phật Tổ có câu đời là bể khổ, ý nói khổ chiều rộng mênh mông bao la bát ngát nỗi khổ. Chiều sâu cường độ, độ sâu dày mỏng của khổ, thì tùy theo đó từng kẻ có khổ nặng khổ nhẹ, khổ ít khổ nhiều, khổ cao khổ thấp. Người thấm tháp sự khổ sâu đậm là ông bác vĩ đại thời thanh niên. Lang thang kiếm sống, phụ bếp bồi tàu, quét đường xúc tuyết xứ lạ quê người, bon chen nhờ vả người này kẻ khác. Cái sự khổ nhục nó cùng cực quá làm nổ bung ra tăm tiếng "người cùng khổ" vài ba tờ rồi dẹp tiệm để lao theo mấy tư tưởng cực đoan đói rách, "cải tạo thế giới".
Qua sự khổ, may không chết là đến sự sướng. Tất nhiên, sướng không thể ngồi chờ sướng, phải chuẩn bị, phải hành động giành lấy mới có sướng. Đi tìm cái sướng, định hướng đến chỗ sướng luôn là mũi tên dẫn dụ xã hội tốt nhất. Ở đời, khổ nhiều sướng ít kẻ khôn ác biết lấy sướng ảo ra dụ dỗ đám đông khổ sở đi tìm cho nó sướng thật. Trâu cày ghét trâu cột, trâu buộc ghét trâu ăn, khổ thấy sướng đương nhiên ác cảm mà ra sức chận nó lại, làm cho nó hết sướng đi mới hả. Thiên hạ khổ nhìn một ít kẻ sướng, nổi giận đùng đùng. Đu lên càng máy bay, sống chết ngàn cân treo sợi tóc đi tìm sướng, nguy hiểm quá sức mấy xứ khổ nhiều.
Chuyện thời sự, vị cựu đảng trưởng "nhân sanh thất thập cổ hy lai" vợ mới chết đã vội vã cưới bà nghị nọ tìm sướng. Gia đình căng thẳng, hằn học kiện cáo, vạch áo cho thiên hạ xem lưng tân phu nhân thủ đắc mưu kế nợ nần. Có quý tử của "bí thư tỉnh uỷ" nọ xây biệt thự, lập vườn thượng uyển không gian sanh thái. Đã khéo léo về nơi hoang thôn ruộng địa ẩn nấp cho nó kín, vẫn đành ổ lộ ồn ào báo chí. "Được cho phép nói", thiên hạ chỉ mới dám châm chích "khen" vườn đẹp tài cao hay dòm ngó rồi dè dặt vòng vèo cái biệt phủ "không bình thường", vườn thượng uyển "có vấn đề", bởi may ông bố đang còn ghế vô sản cao cấp. Quả nhiên đời nay khổ nảo tràn trề, già đảng khổ mà trẻ đảng cũng mất sướng. Tìm sướng đâu chưa thấy, thấy khổ trước mắt.
Rùa ghẻ nổi lên lặn xuống hồ ô nhiễm là linh vật được thiên hạ sùng bái mê muội tự vì nó "giữ chiều sâu quá khứ". Rút đầu rụt cổ rùa trì trệ, sống xếp vị thứ tứ linh, chết còn cái mu rùa. Thiên địa vô thường, trời đất còn thay đổi, thân xác thối thì bất tử, quả nhiên mê man cái xứ rùa chết thật. Vô sản giai cấp cướp chánh quyền, làm cách mệnh dọn dẹp, trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ. Vô sản giai cấp lãnh đạo dân chúng xây dựng đại đồng chủ nghĩa, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Vô sản giai cấp xây biệt thự, lập vườn thượng uyển, sắm siêu xe, gửi con du học Thụy Sĩ, mua đất Canada. Trước có ông Trương Bá Cần viết "Hai mươi năm xây dựng XHCN ở miền Bắc", lấy tư liệu Bắc Việt ở tạp chí CS, tạp chí Học Tập, báo Nhân dân mà nghiên cứu. Có kẻ bảo sử liệu VC bịp bợm, sáng tác nịnh bợ ca bác ngợi đảng, ngu dân hóa; dùng sử liệu ấy mà viết sử, thời coi như bỏ. Linh mục Cần bắt lý, nghiên cứu về CS Bắc Việt mà không dùng tài liệu Bắc Việt, chẳng lẽ lại dùng tài liệu VNCH ?
Nay bà Thụy Khê viết "Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc", trình bày nhiều phát hiện ngại ngần, rất không có lợi cho đảng bác. Tin tức chộn rộn mấy ngày qua, chưa thấy có ai trong đám quần thể giáo sư tiến sĩ "viện nghiên cứu bất tử" lên tiếng phản đối. Vài ba sự cố - tác giả Thụy Khê nói có sách, mách có chứng : - Sử đảng viết Hồ vĩ đại đến Paris năm 1914, "thời điểm này được lựa chọn để hợp lý hóa câu chuyện kể của Trần Dân Tiên — một bút hiệu của Hồ Chí Minh — theo đó anh Ba Nguyễn Ái Quốc đã có công lớn cùng với hai nhà cách mạng lưu vong nổi tiếng Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh trong việc khởi xướng và lãnh đạo phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ngay trên đất Pháp trong giai đoạn 1914-1919. Câu chuyện phịa này bị lật tẩy vì theo hồ sơ chính thức của Sở Mật Thám Pháp, " Tất Thành đến Paris ngày 7/6/1919. Ở số 10 Stockhom từ 7/6 đến 11/6. Ở số 56 Monsieur Le Prince từ 12/6 đến 13/7. Và từ 14/7/1919 đến ở 6 Villa des Gobelins.Về sau, thấy việc Tất Thành đến Paris năm 1914 quá khó tin, đảng ra lệnh cho Hồng Hà, tác giả cuốn Thời Thanh Niên của Bác Hồ, sửa lại: “Anh bỏ nghề phụ bếp ở LuânÐôn, sang Paris năm 1917, đấy là vào cuối năm 1917. Tại sao năm 1917 lại được chọn? Là vì đó là năm xảy ra cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên và cuộc cách mạng bônsêvích tháng 10 ở Nga, như vậy hợp với câu chuyện “Bác ra đi tìm đường cứu nước và sớm giác ngộ chủ nghĩa cộng sản” của Ðảng CSVN." - Như vậy " Nguyễn Tất Thành đến Pháp vào tháng 8 năm 1919 trong khi Hội nghị Hòa Bình Versailles đã được khai mạc vào ngày 18 tháng 1 năm 1919 - tức là trước khi Nguyễn Tất Thành đến Pháp bảy tháng. Nhóm "Người An Nam yêu nước" đã hoạt động từ năm 1916, vì vậy không thể do ông Nguyễn Tất Thành gầy dựng."
- Khả năng Pháp ngữ của ông bác vĩ đại: " Cuộc truy tìm, khảo sát văn bản, hồ sơ của Bộ Thuộc Ðịa và Sở Mật Thám Pháp, và những điều Hồ Chí Minh đích thân viết ra dưới bút hiệu Trần Dân Tiên cho thấy khả năng Pháp ngữ của Nguyễn Tất Thành như sau : Tất Thành bắt đầu học tiếng Pháp trong thời gian làm phụ bếp trên tàu Latouche-Tréville; thầy dạy : hai người lính trẻ giải ngũ, hồi hương. Sau được cô sen nhà ông chủ tàu ở Sainte-Adresse dạy bổ túc. Phải nhờ một đồng nghiệp không có trình độ cao lắm viết giùm đơn xin học ở trường Thuộc Ðịa. Ðến năm 1919, vẫn chưa viết đươc tiếng Pháp nên phải nhờ Luật sư Phan Văn Trường viết hộ. Trong hội nghị Tours của đảng Xã hội Pháp, theo lời thú nhận của Trần Dân Tiên, Tất Thành “nhức đầu vì khó hiểu” những gì mà các tham dự viên phát biểu. Bây giờ chúng ta hãy lật hồ sơ của Sở An Ninh Pháp để xem họ đánh giá khả năng Pháp ngữ của Tất Thành như thế nào. Trong báo cáo ngày 20/1/1921 của điều tra viên Josselme trình thượng cấp, ông ta viết: “Những ai biết tiếng Pháp và đọc những văn bản ký tên Nguyễn Ái Quốc đều thấy một sự thực hiển nhiên : Nguyễn Tất Thành không thể viết những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc.” Tổng thanh tra Pierre Guesde cũng có một đánh giá tương tự về trình độ Pháp ngữ của Nguyễn Tất Thành : “Khả năng nói và viết tiếng Pháp của tay An Nam này không đủ viết những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc ". Thụy Khuê còn cung cấp thêm một chứng cớ hùng hồn khác : một tài liệu video của Viện Quốc Gia Lưu Trữ Âm Thanh và Hình Ảnh INA – InstitutNational Audiovisuel – về buổi phỏng vấn Hồ Chí Minh của một nhà báo Pháp tháng 6/1964. Trong buổi phỏng vấn này, HCM đã trả lời với một tiếng Pháp thô thiển, “có nhiều lỗi sơ đẳng, có câu ông dịch nguyên văn tiếng Việt” như câu: “Le people Viet Nam c’est un et le pays du Viet Nam c’est un ” – ông dịch từng chữ khẩu hiệu: “Nước Việt Nam là Một, dân tộc Việt Nam là Một” sang tiếng Pháp. Trên 70 tuổi đầu mà HCM vẫn không bỏ được cái tật nói một thứ tiếng Pháp bồi của anh Ba phụ bếp năm xưa..."
Những nghi ngờ bác ở bên Tây, cũng giống cho nghi ngờ bác ở bên Tàu. Tập "Ngục Trung Nhật Ký", từ thời gian, văn cảnh, nhân vật, ngôn ngữ, người ta đọc thấy như là của một bác người Tàu Quốc dân đảng chớ không dính gì tới ông bác An Nam tại Tàu sau đó cả chục năm. Muốn giải độc nghi ngờ, chỉ cần công bố bản gốc nhật ký để nhà ngôn ngữ học so sánh ký tự bút tích của bác Tàu hay bác An Nam là ổn cả. Tuy nhiên, bút tích bản gốc là "tài liệu tuyệt mật". Thành ra, có vị giáo sư khen " nhật ký ở tù" vĩ đại bằng cách chỉ ca với tụng người dịch "thơ bác" mà thôi. - Lời bàn luận : Nhân dân lao động lũ lượt kéo nhau từng đoàn vô viếng lăng bác hàng vạn người trong ngày sanh nhựt bác. Người Kơ tu sắc tộc trên núi hay những thương binh tàn không phế, không đọc "cnốc", luôn có lòng kính yêu bác vô hạn. Quần chúng này sẵn sàng dùng nạng dùng chày dẹp dọn bọn phản động, thế lực thù địch. Nói xấu bác của cháu là phải trị tội phỉ báng. Đơn giản thế thôi. Bài học cụ Phạm Quỳnh, nhà văn Khái Hưng, nhà nho Nguyễm Bá Trác đến Phan Khôi, Trần Dần đến Cù Huy Hà Vũ, Trần Huỳnh Duy Thức vẫn còn sờ sờ ra đó. Nhà văn Thụy Khê ở bên Pháp, ký giả Đỗ Thông Minh ở bên Nhật, viết sử ký khoa học nghi ngờ vì họ là trí thức ngoại quốc, biết khoa học lịch sử mà quên chuyện còn có bộ môn thần học siêu đẳng sử ký trong nước.
Sử ký VC có tính đảng, tính giai cấp, tính nhân dân. Sử sáng tác phục vụ nhân sinh, dựa đức tin chớ không dựa khoa học, vì mục đích giáo dục lòng tin đảng, kính bác yêu nước. Trong cái thời bịp bợm, mất hết lòng tin thì đức tin vô bác là chỗ dựa tinh thần lớn học tập làm theo bác, theo đảng định hướng lên thế giới đại đồng. Càng phân tách khoa học, càng soi sáng sự thật, càng vạch sự bịp bợm ra bao nhiêu thời càng làm thần dân của đảng thêm ghét "sử phản động", thêm kính bác hơn nữa. Tần Thủy Hoàng, Võ Tắc Thiên, Lý Thế Dân, Tào Tháo cho tới bạo chúa Nero La Mã vẫn là nhân vật lịch sử có tiếng. Osama Bin Laden có hàng triệu tín đồ Hồi giáo tôn vinh thánh nhân thời nay. Tổng bí thư Polpot là lãnh tụ thiên tài của bọn Khmer Đỏ. Dân BTT chết đói giết nhau ăn thịt vẫn sướng lắm đời làm nô lệ cho cha con họ Kim...