Thứ Ba, 16 tháng 8, 2011

Đôi đũa.


" Năm thằng cầm hai con sào
Lùa bầy trâu bạc chạy vào trong hang..."
Hai con sào ấy là hai chiếc đũa. Hai chiếc đũa làm thành đôi đũa lùa cơm vô miệng.
Khoa Dân tộc học ngâm cứu nhiều về chuyện ăn, nhận xét :
- Xứ Đông phương da vàng vọt, thời Thượng cổ đại có nghề hái lượm, sau biết trồng trỉa, bèn trồng trọt rau củ quả. Sống đời đi lượm, trồng rồi ăn quả hạt thực vật, phương Đông học mấy con chim lấy mỏ gắp đồ ăn, chế ra đôi đũa. Ăn bằng đũa là chánh.
Đông phương ăn rau, ăn hạt nên bộ não tĩnh. Tĩnh thời hay ngẫm, ngẫm hay nghĩ triết, đạo, tư tưởng, tôn giáo này nọ.
- Xứ Tây phương da trắng bệch, từ thời đại Thượng cổ có nghề săn bắt thú vật, sau biết nuôi nấng, tiến tới chăn nuôi thịt da sữa trứng. Sống đời săn bắn động vật, người phương Tây bèn học bọn sư tử lấy răng nanh cắn xé đồ ăn, chế ra dao nĩa. Ăn dao nĩa là chính.
Tây phương ăn thịt mở phô ma, bộ não động hơn là tĩnh. Động não thời sáng trí, sáng trí thời thích khoa học kỷ thuật, thời chế tạo ra máy móc, vi tính, phi thuyền... này nọ.


Về chuyện đôi đũa, ca dao VN có đũa lệch về chuyện vợ chồng thú vị.
" Mẹ tôi tham thúng xôi dền
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
Tôi bảo với mẹ rằng đừng
Mẹ hấm mẹ hí, mẹ bê ngay vào.
Bây giờ kẻ thấp người cao
Như đôi đũa lệch, so sao cho bằng ?"


Mẹ, "duy vật" quá, bèn bê hết các thứ vô cất, thành ra mới bất bình...đẳng !
Xã hội nào có người xã hội nấy. Cho nên mới có câu : "muốn xây dựng CNXH phải có con người XHCN". Con người XHCN đơn giản là con người sống dưới xã hội XHCN.
Có xứ đem xác chết "cha già" ra ướp, buộc con cháu học tập cha già, bắt thi khóc lóc kể chuyện cha già. Tội nghiệp cha già quá đi. Sống đời cô độc, chỉ mong khi chết được đốt xác mau siêu sinh an giấc nghìn thu. Viết di chúc cảm động quá run tay sửa lui sửa tới, tẩy xóa tùm lum... Chả hiểu con cháu tụi nó học cha chúng nó cái gì, lại duy nhất ở trên thế giới sinh ra cái nghề rãi đinh cho thiên hạ nổ lốp xe, vá để kiếm ăn.
Có xứ "lạ" kia, cũng đem "lãnh tụ vĩ đại" ra mà ướp, rồi hô hào dân "xây dựng CNXH theo màu sắc riêng tư". Cũng chả hiểu dân nước chúng nó "màu sắc" kiểu gì, lại nhất duy thế giới có nghề ăn cắp điện thoại bằng đôi đũa...
- Clip "Đũa móc túi" China.





Chuyện áo dài.


Trống đồng Ngọc Lũ khắc mấy cô mặc áo dài cầm cái chày giả gạo, bằng chứng rõ rệt đờn bà nước Nam đã mặc áo dài tự thời cổ đại lịch sử.
Lúc bị Tàu đô hộ, quý vị Thái thú, Thứ sử dùng chính sách đồng hóa. Dân ta buộc phải ăn mặc theo kiểu đồ Tàu. Đến hồi tự chủ, Giao Châu phụ thuộc ra vương quốc An Nam, phụ nữ nước ta bèn mặc áo tứ thân, hai vạt trước cột túm, thuận tiện với đời cần lao.
Riêng quý bà quan liêu nhàn hạ dùng áo ngũ thân cho vẻ trang đài quyền quý.
Trịnh Nguyễn phân tranh, đất nước chia rẻ 200 năm. Đàng Trong, chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát nghĩ ra cái áo dài cải tiến, buộc đờn bà phải mặc cho khác bọn dân "Trịnh tặc" Bắc Kỳ xứ. Áo dài VN cứ thế định hình dần dà năm tháng.
Nước Pháp qua đô hộ VN. Văn hoá Tây dương du nhập lấn át văn hóa Tàu. Áo dài cũng bị Tây hóa. Họa sĩ Nguyễn Cát Tường trên báo Phong Hóa vào năm 1934 đã giới thiệu bộ sưu tập "Hoa Hồng giờ Tý", ra mẫu "áo dài Le Mur", cải biến áo tứ thân ra áo dài hai vạt. Ông chính hiệu cụ tổ của cái áo dài VN hiện đại. Con cái ổng nay sống bên Mỹ cả, và phụ nữ dù đều có áo dài trong tủ nhưng 99,99% hỏi, không biết Nguyễn Cát Tường là ai !


May kiểu mới, áo dài VN bị mấy bảo thủ coi là cái áo "đĩ thỏa" vì nó bó sát, ôm trọn phơi bày mấy đường cong nữ khiêu khích cho thiên hạ ngắm nghía hết. Nhất là học trò nữ sinh Trung học, nhà trường buộc mặc áo dài trắng đi học, chất liệu vải vóc may áo dài trắng thời mỏng, không may gặp mưa giữa đàng, phơi bày ra lồ lộ...
Nói đến áo dài, không thể không nói tới tài ba của vị "cha già" với cải tiến, phải nói quá lỗi lạc. Ngày 20/3/1947, bác "Tân Sinh" viết bài "Đời Sống Mới", kêu gọi toàn dân bỏ áo dài, mặc áo ngắn (áo dài cắt cụt đi hai vạt, chừa phần trên) để tiết kiệm, lại thuận lợi cho sinh hoạt sản xuất kháng chiến. Quả nhiên, sáng kiến được hưởng ứng nhiệt liệt, hầu như đờn bà Bắc Việt đã quên hẳn cái áo dài suốt thời gian "chống Mỹ cứu nước".
Nay thì đã khác, nhà thiết kế thời trang cho ra vô số kiểu mẫu áo dài rất gợi cảm, quý phái, tôn vinh được cái đẹp người phụ nữ VN.

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2011

Bắn vào đâu ?


Dân chúng quần cư, muốn phát triển văn minh, tất nhiên không thể vô chính phủ. Sống có tổ chức mới an cư. Có an cư mới lạc nghiệp. Vô chánh phủ thời xã hội rối loạn.
CA nhiệm vụ giữ an ninh xã hội, chống cướp bóc, chống bọn làm loạn, được cấp súng biên chế phù hợp, trấn áp tội phạm. QĐ nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, giữ biên cương biển đảo, chống quân xâm lược, mới được trao vũ khí đầy đủ hạng nặng nhẹ, sẵn sàng đánh giặc.
Mấy lý thuyết ấy quá đơn giản, bọn học trò nhỏ đều biết khi cắp sách đến trường.
Thực tế thời rắc rối hơn.
Ngư dân hoạt động trên biển Đông phần chủ quyền VN, bọn Tàu ngang ngược lại cấm đoán. Chúng bắn chết người VN, đánh đập bắt giam đòi tiền chuộc, cướp phá tàu bè họ làm ăn trên tổ quốc của họ.


Bọn Tàu còn vô tận bờ biển VN cắt cáp thăm dò dầu khí
Ấy thế, Hải quân QĐND anh hùng tầu to súng lớn, trốn đi đâu mất tiêu hết, phó mặc bà con "tự quản" với quân cướp Tàu.
Người thời nói Hải quân ta trốn vì sợ tàu Ma Đốc của Tàu, người thời bảo vì quân ta có súng, nhưng lại không biết cầm súng bắn vào đâu cả... Dư luận cả nước có vẻ băn khoăn.
Thế nên mục Chính Luận báo Quân Đội Nhân Dân ngày 7/8/2011 có bài viết của "Thiếu tướng giáo sư" Bùi Phan Kỳ, chỉ huấn cho bộ đội biết cầm súng bắn vào đâu.
Đọc bài này xong, thật thấm thía cái sự ngu si cực kỳ phản động của một tên khốn nạn.
Trung Cộng mưu mô dùng đám tay sai, áp dụng "VN hoá chiến tranh" kiểu Tàu, để "bất chiến tự nhiên thành" xứ Tân Tây Tạng chăng ?
- Clip "Hãy sống dùm tôi" - Ca sĩ Khánh Ly.


Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2011

Truyền thuyết bà Thanh Đề.


Xưa Ấn độ có bà Thanh Đề rất sùng đạo, thường đi chùa lễ Phật.
Bà cuồng tín độ cho rằng gạo nấu cơm cúng Phật mua ngoài chợ không tinh tấn. Bởi hạt lúa trước khi xay bị người ta bước ngang qua...
Bà bèn tự tay trồng lúa vô mấy gáo dừa, treo lên cao, đến kỳ thu hoạch, lấy hạt lúa đó, dùng cán một con dao mới tinh, giả ra gạo, nấu cơm đem lên chùa dâng cúng.
Nhưng các sư không để ý đến bát cơm lòng thành, cực khổ, khó khăn của bà. Họ lo tiếp đón những vị bổn đạo giàu có, mang lễ vật đắt tiền hơn.
Bà Thanh Đề giận lắm, ném chén cơm cho chó ăn, và nói : " Ta sẽ cho các ngươi về địa ngục hết !"
Bà mời quý sư đến nhà ăn cơm, rồi làm thịt chó nhân bánh bao, tặng đem về chùa.
Sư Trụ trì biết chuyện, bảo các sư vứt hết số bánh ra vườn.
Có một vị sư lỡ ăn hết một cái bánh nhân thịt chó này...
Đức Phật hiểu hết sự việc. Ngài bèn đọa hết các thầy trọng của khinh người, các sư xum xoe đám bổn đạo giàu có. Cho xuống địa ngục hết !


Riêng ngài hóa phép cho con chó bị làm thịt sống lại. Cái chân chó bị sư ăn được thay bằng cái chân mới. Cũng vì thế, mỗi khi chó đái, chó nhấc cao chân mới đó lên, vì sợ ô uế.
Mấy cái bánh bao biến hoá ra mấy bụi hành. Từ đó về sau, nhà sư không ăn hành, dù biết hành rất ngon và bổ dưỡng.
Bà Thanh Đề bị đọa xuống hoả ngục đền tội chơi ác, thuốc các sư, cho các sư ăn thịt chó.
Bà tay bị xiềng, cổ mang gông, đầu đội huyết bồn. Mỗi khi bà nhận phần cơm, đói quá sợ người khác giành giật, che kín lại, nhưng mới đưa lên miệng, lập tức hóa lửa cháy.
Kiếp ngạ quỷ đói khát thật là thậm tệ !
Tôn giả Mục Kiền Liên, con trai bà Thanh Đề là đệ tử của đức Phật.


Ngài dùng Thiên lý nhãn nhìn xuống địa ngục, thấy mẹ bị đọa quá thê thảm, bèn khóc lóc xin đức Phật xá tội.
Đức Phật thương tình, bày cho Mục Kiền Liên rằng, đến rằm tháng bảy, dọn 100 món thức ăn ngon, cúng dường chư tăng để họ tụng niệm cầu siêu cho, bà sẽ được giải thoát.
Quả nhiên, sau đại lễ cầu siêu Vu lan bồn rằm tháng Bảy, bà Thanh Đề được giải thoát, vô chùa đi tu, làm dì vãi.
Từ đó trở đi, ngày rằm tháng Bảy được coi là ngày xá tội vong linh, cơ hội con cái báo hiếu cha mẹ, có đại lễ Vu lan bồn - Ullambana.
Ai còn mẹ sẽ đeo một bông hồng đỏ trên ngực, đi chùa làm lễ cầu an.
Người mất mẹ, sẽ đeo một bông hồng trắng, đi chùa làm lễ cầu siêu.
Sư Thích Nhất Hạnh, bút danh Nguyễn Lang có viết "Bông hồng cài áo" cũng cảm động.
*
Mùa Vu lan 2011. Cầu nguyện mọi người tâm thể bằng an, hướng về nguồn cội.