Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

Ô châu ác địa.


Thượng thư nhà Mạc ông Dương Văn An vốn quê đất Quảng Bình, học giỏi đỗ Tiến sĩ, được ra làm quan, rồi có cuốn dư địa chí "Ô Châu cận lục", xuất bản năm Ất Mẹo (1555), mô tả chi li đủ chuyện xứ Bình, Trị, Thiên hồi đó.
Địa danh "Ô Châu" hay "Châu Ô" là tên đất Triệu Phong và Hải Lăng dưới triều nhà Trần, nhờ mưu kế bán gả con gái vua Trần Nhân Tông, thu tóm được đất đai về cho Đại Việt.
" Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười
Vốn đà không mất, lại thêm lời.
Hai châu Ô, Rí muôn nghìn dặm
Một gái Huyền Trân của mấy mươi ? "
Sách sử địa "Ô Châu cận lục" thực ra không phải Dương Văn An tự viết. Căn cớ như vầy, năm 1553, nhân Dương Văn An hồi chức về làng cư tang trả hiếu, có hai anh học trò cũ đến dâng sách ghi chép hai phủ Triệu Phong, Tân Bình (Thuận Hóa). Ông đọc thấy hay bèn sưu khảo, hiệu chỉnh, viết thêm bình luận cho đời sau biết thủa ấy thế nào.
Châu Ô của ông Dương viết không còn bó hẹp đất cũ mà rộng hơn. Bao trùm cả một vùng tự Quảng Bình đến một phần Quảng Nam xưa. Là vùng đất mới của dân xứ Chàm, nhờ mưu mô lấy được, chốn ấy hoang vu rậm rạp, cọp beo rắn rết, sốt rét thương hàn, muỗi mòng trùng độc. Chỉ mấy người tù trốn trại, dân nợ nần chồng chất, dân "kinh tế mới" hết đường sống mới dám mò đến mà ở. "Ô châu ác địa" có nghĩa là đất Ô châu vốn độc ác thậm kỳ. Sau này, chúa Nguyễn Hoàng đào thoát đến Ô châu, lập Dinh Cát ở Ái Tử, mở mang thay đổi dần dà, bớt đi sự hoang vu dã man ghê sợ.


Cái luật đời, đi đến vùng đất mới mà ở thì bao giờ cũng bị đám ma cũ nó bắt nạt, gây khó dễ. Kẻ thù hai chân, bốn chân, người âm kẻ dương cựu trào tất thảy chống đối bọn người lạ "xâm lăng" vốn đương nhiên.
Như khi xưa, quân Tàu Mã Viện kéo qua An Nam đàn áp Bà Trưng, sách Hậu Hán Thư, Mã Viện truyện ghi chép : “... quân giặc chưa dẹp được, dưới thì nước lụt, trên thì mây mù, khí độc bốc lên ngùn ngụt, trông lên thấy diều hâu đang bay bỗng sa xuống nước chết, nằm nghĩ đến lời Thiếu Du mới thấy là chí lý ...”. Thiển nghĩ rằng, cái độc ác đất An Nam dành cho người Tàu, chắc cũng hệt như sự ác độc của đất ma Hời dành cho người Việt, ra câu "ác địa" di truyền.


Dẫn chứng một số đọa đày chém giết hiểm ác xứ Ô châu. Ví dụ Huế, vùng đất điển hình cho những thảm sát lịch sử :
- Vua Lê Thánh Tông năm 1471 chinh phạt giết quân Chàm vô số ở động thành Lồi.
- Quân Trịnh đánh chiếm Phú Xuân năm 1775, chém hàng vạn quân sĩ chúa Nguyễn.
- Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ giết quân Trịnh, san bằng Phú Xuân năm 1786.
- Vua Gia Long năm 1801 chiếm lại kinh thành, thêm một trận thảm sát tàn quân Tây sơn khủng khiếp. Mồ chôn tập thể tràn lan, dân chúng kêu bằng hai từ "mã loạn".
- Quân Pháp đánh chiếm kinh đô Huế 23/5/1885, đụng ai giết nấy, xác người lại nằm mênh mông chật đất, mồ táng tập thể nay còn tại nghĩa địa Ba Đồn ở Nam sônh Hương.
- Năm 1945, quân Pháp tái xâm lăng, đổ bộ vô Huế, Việt Minh chạy lên chiến khu Dương Hòa. Trước khi rút, tranh thủ giết ồ ạt "việt gian", chặt bắn không sót !
- Năm 1968, lại quân cộng sản gây cái chết thảm khốc cho vô số người Huế ngay trong ngày tết. Tư thù tư oán, núp dưới chiêu bài "vùng lên nổi dậy" để thảm sát dã man vô số người ta. Hàng ngàn đồng bào bị bắt đem chôn sống thê thảm.
Ngày nay, đất Ô châu ác địa, xứ Huế và vùng phụ cận, theo như kể lại, cứ mỗi chiều chạng vạng, người dân địa phương cũng như du khách đến thăm thú, đi đâu cũng thấy cảm giác có cái rờn rợn u uất khó tả. Chắc tại đám ma quái oan hồn người xưa quờ quạng vẫn mộng trả thù, vẫn lang thang hàng đoàn đợi thời cơ đến báo oán ?


Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012

Giáo xứ.


Giáo xứ là xóm đạo. Đạo thời có nhiều đạo : đạo Phật, đạo Hồi, Cao đài, Hòa hảo. Ở đây, xóm đạo là nói xóm đạo Thiên chúa.
Hồi trước, nước Nam có đạo Nho, Lão, đạo Phật, đạo thờ phồn thực, đạo cúng Tổ tiên. Về sau, mấy vị tu sĩ Tây phương qua truyền giáo, mới nảy sinh ra thêm đạo Thiên chúa.
Cố đạo A Lịch Sơn Đắc Lộ công lao rất lớn, cấu tạo chữ Quốc ngữ, dùng mẫu tự Latine ghi âm tiếng Việt, giúp dân ta thoát khỏi sự viết lách rắc rối kiểu Tàu.
Người An nam đi theo Chúa Jesus. Chế độ vua chúa không thích đạo ấy, bèn ra sức cấm đoán gay gắt, định danh Thiên chúa giáo là thế lực thù địch cần phải trấn áp.
Giáo đồ Thiên chúa giáo thờ cây Thánh giá (cộng sản gọi cây Thập ác) theo cái phương châm "Bác ái", vinh danh đức Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm, điều kiện vào đạo dị giản, vừa ý lớp bình dân, thành ra số theo đạo cũng đông đúc. VN là nước có tín đồ Thiên chúa giáo đứng thứ nhì Đông Nam Á, sau Philippin.


Dân chúng xứ đạo tình đoàn kết sức mạnh, sống đức tin, ngày chủ nhật đi lễ nhà thờ, không ưa mấy kẻ vô đạo báng bổ. Cộng sản vốn vô thần, nay dẫu biến tướng thành ra một thứ tôn giáo quái dị thờ bác đảng, nhưng với nhiều người công giáo, nó như nước lửa, khó đội chung trời.
Hiện tại ở ba miền có ba xóm đạo nổi tiếng. Bắc là hai xứ đạo Bùi Chu (Nam Định), Phát Diệm (Ninh Bình).Trung là giáo xứ Phủ Cam (Huế). Nam thời Tha La xóm đạo (Tây Ninh).
Riêng xóm đạo Tha La, vốn đất đai của người Khmer, rồi một số giáo dân tự thời Minh Mạng trốn đến khai khẩn tụ làng, quần cư sinh sống mà lập họ đạo. Tha La tiếng Khmer là " Schla", ý nghĩa cái trại chốn hoang vu rậm rạp. "Schla" lâu ngày Việt hóa thành "Tha La."
Tha La xóm đạo nhiều người biết tới là do Vũ Anh Khanh, năm 1945, sáng tác bài thơ "Tha La xóm đạo" được nhạc sĩ Dzũng Chinh, Sơn Thảo phổ hai bản "Tha la xóm đạo" và "Hận Tha La" nghe hay.






Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Tháng ba thiếu đạn.


Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân. Nàng Bân may áo cho chồng, may mấy tháng ròng chưa được nửa thân. Mưa bụi bay lất phất mùa xuân, chim quốc quốc kêu khắc khoải đến nao lòng, nhớ năm xưa tháng cũ.
Chiến tranh lâu dài tốn kém thấy không ra chi, Mỹ thực dụng bắt tay China, rút quân về nước, cắt giảm viện trợ, đưa VNCH vô thế chết chắc.
Hơn 3 tỷ đôla chu cấp mỗi năm mới đủ súng đạn, xăng dầu, nhu yếu phẩm cầm cự, thời nay chỉ còn 1,1 tỷ. Miền Nam mất hẳn hậu cần 60%. Bắc Việt được bọn Nga Tàu, Đông Âu, Cu ba... cung cấp ồ ạt có vũ khí tiền bạc vô đối, tinh thần phấn chấn, tha hồ bày binh bố trận chủ động đánh tới.
Năm 1974, ngày 16 tháng 12, quân cộng sản bắt đầu dội bão lửa xuống tỉnh lỵ Phước Long. Tướng dù Dư Quốc Đống, tư lệnh vùng 3 chiến thuật loay hoay chia xớt binh lực cầm cự, lòng lo sợ mất Tây Ninh chiến lược. Quân ít, thiếu thốn sự tăng viện, có tinh thần mà không có đủ mưa bom bão đạn ngăn chặn, giữ sao cho đặng ? Hai chục ngày sau, xe tăng quân Bắc Việt tràn ngập Phước Long, lính VNCH rút chạy.
Phước Long là tỉnh đầu tiên trong 44 tỉnh miền Nam mất vào tay VC, cột mốc đánh dấu khởi đầu cho sụp đổ hết cả.


Chung quy chỉ tại đồng tiền. Bọn Nga Tàu ồ ạt viện trợ "quốc tế vô sản" cho bộ hạ vì cái lợi ích dân tộc chúng nó. Địa chính trị liền một khối, hàng đoàn xe quân sự theo đường bộ qua biên giới chở đạn dược khí tài cho Bắc Việt thì mau chóng quá . Bạn Mỹ đồng minh bên kia đại dương lại cắt giảm toàn diện cho mày chết. Tội nghiệp Tổng thống Thiệu cái khó bó cái khôn. Cái phong trào " ta tắm ao ta" phát động trên mảnh đất vài chục triệu dân rách như xơ mướp bởi bom đạn, bởi những đốt xóm phá cầu gài mìn lựu đạn mỗi ngày. " Dân mình ơi ! Phải lo tự túc tự cường cho nước mạnh dân giàu. Đừng nên cậy thế nơi người ta mắc nợ về sau ". Tự túc chi được. Cơn túng quẩn, Tổng thống đặc phái ngoại trưởng Vương Văn Bắc qua Ả Rập Saudi thương thảo vay tiền mua đạn, nhưng đâu có dễ. Triệt thoái Tây Nguyên, tư lệnh vùng 2 Thiếu tướng Phạm Văn Phú bảo giữ thêm được 60 ngày, nhưng trả lời cho câu hỏi " Sau đó rồi sao ? " của Tổng thống là một sự im lặng dễ hiểu.


Cao nguyên Trung phần tháng ba đánh mất. Tùy nghi di tản. Huế, Đà Nẵng tháng ba cũng chẳng còn. Tháng ba không gãy súng mà tháng ba không đủ súng đạn tử thủ. Chung quy thiếu đồng tiền mua đạn. Lửa cháy không còn nước dập. Nước xa không cứu được lửa gần, huống chi nước xa lại không muốn cứu. Tất cả phải cháy hết chuyện đương nhiên.
Mà để cháy hết thực ra cũng hay. Chiến tranh nhường chỗ cho hòa bình thiết lập, chấm dứt được cuộc nội chiến dai dẳng giết chết người Việt vô số.
Tóm lại, chiến tranh nào cũng vậy. Phe nghèo đói, ít tiền thiếu bạc, không ai giúp đỡ mua cho vũ khí tất thua to. Phe dồi dào dư giả được bọn đàn anh gần gụi chu cấp ồ ạt, thắng cái chắc. Có tiền, có súng đạn là có "chủ nghĩa anh hùng cách mạng", và được hòa bình đương nhiên tốt hơn phải cầm súng chinh chiến, chiến tranh ấy sự điên loạn loài người.




Phá cách.


Thường lệ lâu dài sinh ra chán ngán, người ta bèn phá rào phá dậu tạo sự mới lạ gọi là phá cách. Sáng tạo cách tân, bỏ lối mòn xưa cũ là cần thiết cho văn minh đời sống.
Người phương Tây nhiều sáng tạo, đề cao sự phá cách nên chi mau chóng tiến bộ. Ý nghĩ sáng tạo là Thượng đế làm dân mấy xứ ấy mau lẹ phát triển.
Các loại hàng hóa không ngừng thay đổi cho tiên tiến, đáp ứng nhu cầu nâng cao. Đồ dùng kỹ thuật điện tử tân kỳ, hàng hiệu sành điệu thời trang đắt tiền được nhờ ở tính phá cách.
Xứ ta thì khác, sống theo mấy thói quen di truyền nên dị ứng với cái mới mẻ. Sự "lạ" dù hấp dẫn, công chúng nhiều khi ném đá vì cái "khang khác".
Ngoài ra, những định hướng bắt buộc học tập làm theo cái lạc hậu tự thời ông cố dao mác, khép mấy ý tưởng cải cách tự do dân chủ là "thù địch phản động", trấn áp "trái chiều"... cũng tạo ra cái tâm lý xã hội sợ cái mới, sa sút sáng tạo.
- Xem ảnh "phá cách" :