Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012

Bắt thang lên hỏi ông trời.


Bắc thang lên hỏi ông trời :
"Lấy tiền cho gái có đòi được không ?"
Ông trời phán bảo rằng : Không !
Tiền cho gái đẹp chổng mông. Khỏi đòi...
Nói chuyện ông Trời với người đời nghĩ cũng lạ. Thiên hạ lúc khổ thời than trời ơi sao tôi khổ thế này, chớ còn lúc họ sướng không thấy ai rên rỉ trời ơi sao tôi sướng thế này cả.
Sống khổ quá thời kêu rên bị trời đày trời đọa. Gặp sự oan ức sơ sơ đã gọi là nỗi oan lên thấu tận trời xanh, chỉ trời xanh kia mới thông cảm cái sự oan đó. Mà trời thì cao quá xa quá, không nghe chi được, nên cái thời ông Bao Thanh Thiên, người ta hay kêu trời kêu đất, van vỉ cái nỗi oan khiên nhiều nhất hạng, âu tự vì họ thấy có ngài thay trời xanh công bằng mà xử kiện chăng.
Dẫu khi sướng không kêu trời, ấy khi được trời cho cái lộc thì người ta cũng biết nhớ tới trời, làm mâm cơm cúng tươm tất. Trước tạ ơn trời, sau hầu tàn dọn xuống cho vợ con cả nhà gắp gắp chan chan.
Chuyện bắt thang lên trời của mấy anh chàng keo kiết mê gái đẹp, làm le móc túi tặng mấy nàng, xong rồi tiếc đau đứt ruột, muốn đòi lui. Không dám bình luận chi nhiều, nhưng mà thấy buồn cười quá đi...


Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2012

Hồ trường.


Nhân gian có nhiều thứ gọi là hồ, tùy theo cái vĩ từ đứng đằng sau mà lộ ra chánh xác ý nghĩa. Ví như hồ ly tinh là giống chồn đèn quái đản thành tinh, hồ vôi vữa là hỗn hợp cát xi măng trộn nước các bác thợ nề, hồ dán thủ công là của học trò mẫu giáo, hồ vĩ đại là lãnh tụ của những kẻ theo đảng, "hồ trên núi" là tên một bài hát của Phó Đức Phương kể lể cái hồ ở trên núi. Còn "Hồ trường", thì là cái từ ghép mới lạ, xuất xứ Hán ngữ cụ danh sĩ Đông du Nguyễn Bá Trác bản quyền cấu tạo.
Hồ trường xuất hiện cách đây vừa tròn thế kỷ, từ một bài ca cụ ấy nghe, thấy hay, rồi dịch thuật  cho ra cái từ loại "hồ" đặc sắc này.
Hán Việt từ điển của vị cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha thì có đến 17 chữ Tàu ý nghĩa đọc đều ra "hồ" cả. Hồ là hồ ơi, hồ hỡi. Hồ là bầu là nậm chứa rượu. Hồ là cung là cong..., cứ ngó theo bộ chữ mới dịch cho nó trúng. Chữ "trường" thời có nghĩa là dài dòng, hay ho, trưởng thượng; chớ không liên hệ gì với sự rượu chè be bét. Còn có chữ "thương" nghĩa là bày đặt ra, là chén rượu đọc trại thành"trường", chữ"trường" này theo ý một số bác học chữ Hán, mới là cái ý chữ tâm đắc cụ tuần Trác đã chọn dùng.
Tóm  cho đơn giản, Hồ trường là cái bộ đồ uống rượu, gồm cái bầu hồ lô rượu bự chảng với mấy cái bát to tha hồ uống. Uống tam tửu, tứ tửu, quần tửu, loạn tửu; uống hoài không sợ hết, không phải lo "cắt cổ không bằng đổ rượu" vậy.


Chuyện cụ tuần Trác với bài Hồ trường:
Nguyễn Bá Trác người làng Điện Bàn đất Quảng Nam, đổ Cử nhân năm 1906, Đông du qua Nhựt Bổn rồi sang China sanh sống một thời gian. Hồi tôn cố quốc năm 1917, cụ phụ trách phần Hán văn Nam Phong tạp chí, rồi vô Huế làm quan bộ Học, sau chuyển chức Tuần Phủ xứ Bình Định.
Năm 1945, Việt Minh ra tay tàn sát hàng loạt trí thức học giả nước Nam không theo cộng sản. Nhà văn Khái Hưng Tự Lực Văn Đoàn bị thủ tiêu quăng xác xuống sông, cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh bị bắn chết, xác vùi lấp ở gần ga Hiền Sĩ phụ cận Huế. Riêng cụ tuần Trác thời Việt Minh bắt, xử bắn công khai ngay tại đất Bình Định.
Hùm chết để da, người ta chết để tiếng. Cụ Nguyễn Bá Trác tiếng tăm thì nhờ bài dịch "Hồ trường" in trên tạp chí Nam Phong số 41 năm 1920 khiến cho ai đọc cũng thấy thích thú rồi ngâm nga mà nhớ cụ.
Trong tập "Hạn mạn du ký", chương thứ 10 cụ Trác cho biết, năm 1912 cụ "đào vong quốc sự" lưu lạc đến Thượng Hải bên Tàu. Một hôm uống rượu cùng với vị đồng hương đồng chí. Vị này ngà ngà say, bèn đứng dậy hát "Nam phương ca khúc". Bàn rượu bên cạnh, một võ quan họ Lưu, người xứ Trực Lệ, nghe điệu hát, sang hỏi là điệu gì, bèn được trả lời: “Ấy là một điệu đặc biệt ở phương Nam”. Họ Lưu nói “nghe tiếng bi mà tráng, nhiều hơi khảng khái, Nam phương mà có điệu hát đến thế ru? ”. Sau đó họ Lưu xin người hát chép ra giấy lời ca ấy để giữ mà xem..."
Bản dịch bài Hồ trường của cụ Nguyễn Bá TrácTrác đến nay, các vị hào kiệt cao tuổi VNCH nhân sinh thất chí, bôn đào hải ngoại tha hương, các cuộc uống rượu tiêu sầu thường hay ngâm nga mà tỏ nỗi niềm tâm sự.


" Trượng phu không hay xé gan, bẻ cột phù cương thường
Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương.

Trời Nam nghìn dậm thẳm,
Mây nước một mầu sương
.
Chí chưa thành, danh chẳng đạt,
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thể bóng tà dương.

Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi,
Trời đất mang mang,
Ai người tri kỷ ?
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.

Hồ trường !
Hồ trường !
Ta biết rót về đâu ?

Rót về Đông phương ?
Nước bể Đông chẩy xiết sinh cuồng loạn
.
Rót về Tây phương ?
Mưa Tây sơn từng trận chứa chan

Rót về Bắc phương ?
Ngọn Bắc phong vì vụt, cát chạy đá dương

Rót về Nam phương ?
Trời Nam mù mịt, có người quá chén, như điên như cuồng

Nào ai tỉnh, nào ai say,
Chí ta ta biết, lòng ta hay

Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ,
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây
."



Thứ Tư, 14 tháng 3, 2012

Chất bí mật.


Bí mật là dú diếm kín đáo cái sự gì đó để không ai biết ngoài mình hoặc phe nhóm của mình ra. Ví dụ trong nhà có vàng bạc nhiều thì phải cất dấu nơi bí mật kẻo sợ hở hơi ra, mất mát đi. Thời vua chúa, dinh thự của danh gia vọng tộc đại quan quý phái, bọn giang hồ tiêu đầu bang chủ xây căn cứ địa đều xây mật thất khi lâm nguy cơ có chỗ mà trốn. Mật thất nhiều khi thành nơi giam giữ kẻ thù, giam lâu dài hay giữ tạm thời là theo nhu cầu chủ quản. Ví dụ Hấp tinh đại pháp Nhậm Ngã Hành, đại ma đầu giáo chủ Nhật Nguyệt Thần giáo sơ ý để pê đê bộ hạ Đông Phương Bất Bại ám toán đoạt chức. Lão ác ma này bị xích tay trói chân ở Hắc lao dưới đáy Tây Hồ, Giang Nam Tứ hữu kín kẻ canh phòng, sau có Hướng Vân Thiên, Lệnh Hồ Xung đến giải thoát.


Chiến tranh VN, cán bộ VC nằm vùng hay trốn dưới hầm bí mật, dân chúng ủng hộ cộng sản nuôi dấu kín đáo. Ban ngày núp, ban đêm mò lên cầm AK, lựu đạn đi hành động. Hầm bí mật thường đào trong mấy bụi tre rậm rạp, trên cồn mồ cồn mã, ngụy trang lá cây cối rãi đất rãi đai màu mè bao che cẩn thận. Một số hầm đào ngay trong nhà cơ sở nòng cốt, nắp hầm được bếp núp nong nia che đậy khéo léo. Chuyện có thực như vầy, người nhà quê nọ vô tình đi vệ sanh trong bụi tre, bất ngờ vị nằm vùng đội nắp hầm trở lên. Bốn mắt không hẹn nhìn nhau, té ra là người quen biết mặt. Nhà quê sợ quá vùng bỏ chạy về nhà, thúc hối vợ con tay nãi đào thoát vội vã đi xứ khác. Cũng may thay cho cả nhà anh ta, tối hôm đó vị nằm vùng thêm hai anh cách mệnh kéo đến "làm cách mạng" hụt...
Quân lính VNCH, lính Mỹ đi càn quét, lùng sục thường xăm hầm tìm kiếm VC, phát hiện ra là cạy nắp hầm dụ hàng hay là quăng lựu đạn xuống dưới giết cho chết hết.


Chất bí mật là chất liệu mới tìm ra, đặc biệt chế tạo mặt hàng siêu đẳng, nên không một ai có thể biết công thức, đảm bảo cái hàng khủng của mình giá trị độc quyền. Ví dụ, cùng chế tạo chất cao su, có loại tính năng ưu việt là nhờ vào giờ phút chót, nhà sản xuất công nghệ cao lén bỏ vào nồi nấu cao su chất bí mật khiến nó trở nên siêu đẳng.
Nước Nam nay đã chấm dứt chuyện đào hầm bí mật liền nảy nòi sanh sự sang làm chất bí mật. Nghe nói có vị Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê chế tạo ra chất bí mật hết sức quý giá. Lấy hai chai nước lã, cho ít chất bí mật vào, dùng hai sợi dây kim loại nhúng vô là có điện để mà dùng.


Phát minh ấy sẽ giúp thiên hạ có điện xài thoải mái trong từng hộ gia đình, khỏi phải câu điện nhà nước dây dợ phức tạp. Các loại phương tiện xe cộ sắp tới rồi tất chuyển qua sử dụng động cơ điện xài nước lã, khỏi phải xăng dầu tốn kém chi cả.
Các vị giáo sư tiến sĩ tài giỏi trong nước đã bỏ công sức thẩm tra, có người đánh giá rất cao về cái chất bí mật tạo điện nước lạnh ấy. Một ngày gần đây, khi chất bí mật sản xuất đại trà, người Việt sẽ xài điện năng vô tư nhờ có nhiều nguồn nước lã âu cũng phước báu dân tộc lớn.
Điện nước lạnh nhờ chất bí mật chắc hẳn sẽ mở ra thời kỳ cáo chung nhiều loại năng lượng cổ truyền, tăm tiếng người Việt khi ấy sẽ khiến "chấn động địa cầu" thêm lần nữa, cũng là điều vinh dự lắm thay.




Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012

Tăng đạo.


Đạo Phật du nhập nước Nam theo hai hướng, Bắc từ Tàu đi bộ xuống, Nam ở Ấn Độ đi thuyền qua. Đường tăng đạo chia hai : Nam tông tiểu thừa nguyên thủy Theravada, Bắc tông đại thừa rộng rãi thiền tu chủ chánh.
Đất của vua, chùa của làng, làng thông thường cái chùa sớm chiều chuông trống gõ mõ tụng kinh, khi có đám tang chế kỵ cúng thời mấy ông thầy chùa làng kéo đến chập chập cheng cheng rộn ràng ấm lòng gia chủ.
Mấy triều đình vua hoàng hậu công chúa nào thích đạo Phật, ra chỉ dụ, cúng tiền xây chùa, hoặc truy phong ban sắc cho mấy chùa tăm tiếng bằng sắc chỉ gọi là chùa Sắc tứ. Sư tu chùa vua thường cao đạo hơn sãi giữ chùa làng.
Thời nay, chùa xưa gọi Tổ đình, chùa lập thủa chiến tranh có Niệm Phật Đường, chùa Tỉnh Hội, chùa Khuôn Hội. Còn Am, Cốc, Chùa nhỏ thì do mấy tư gia giàu có lập ra mà tu.
Trước năm 1954, miền Bắc chùa Quán Sứ là tụ điểm giáo hội Tăng già Bắc Việt, có tờ báo Đuốc Tuệ chuyên đạo tu nên cũng gọi là tu Phật.
Đến hồi Cộng sản Hồ Chí Minh thống trị, Phật giáo Bắc Việt ngoài mặt tiếng tu Phật, còn bên trong tu đảng tu bác là chánh.


Miền Nam VNCH rắc rối hơn. Thời cụ Diệm nắm chánh quyền, đề cao Thiên Chúa giáo làm Phật giáo đồ căm tức lắm.
Thêm đám sư sãi cọng sản nằm vùng kích động gây sự biểu tình, phong trào Phật giáo vì thế rầm rộ. Tuần hành, biểu tình, tự thiêu, hội họp làm lung lay cả chế độ.
Nền đệ nhất cộng hòa sụp đổ, anh em cụ Diệm bị giết, Phật giáo miền Nam hội họp phe phái tăng chúng, lập ra cái "Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất". Giáo hội này sau chia rẻ ra hai phe đấu nhau kịch liệt.
Phật giáo Ấn Quang, do Thượng tọa Thích Trí Quang (người Quảng Bình) Tổng Thư Ký Viện Tăng Thống cùng Đại đức Thích Nhất Hạnh (dân Thừa Thiên) cầm đầu. Đây là phe ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng, ưu ái Hồ Chí Minh, chống đối chính quyền VNCH kịch liệt.


Phật giáo Việt Nam Quốc Tự có Thượng tọa Thích Tâm Châu (người Ninh Bình), viện trưởng Viện Hóa Đạo và Thượng tọa võ sư Nhu đạo Thích Tâm Giác (gốc Nam Định), giám đốc Nha Tuyên Úy Phật giáo. Phe Việt Nam Quốc Tự thì ủng hộ cho thể chế dân chủ.
Giáo hội PGVNTN đa phần các chùa đều là căn cứ bí mật cho bọn VC trú chân ẩn nấp nằm vùng. Cứ mười chùa thời hết chín là đi theo Cộng sản.
Sư áo vàng Thích Minh Châu (dân Quảng Nam), đảng viên Cộng sản ra lập Đại Học Vạn Hạnh, đào tạo vô số tăng sinh bổ túc đội ngũ. Thêm sư áo lam Thích Đôn Hậu (người Quảng Trị), xuân Mậu Thân 1968, chống gậy lên chiến khu tham gia Mặt Trận "chống Mỹ cứu nước".
Thời VNCH, Phật giáo miền Nam chủ ý có ngài Tăng thống Thích Tịnh Khiết, có Viện Đại học Vạn Hạnh, Nhà xuất bản Lá Bối, các Tuần báo Hải Triều Âm, Chánh Đạo, có Nha tuyên úy Phật giáo đảm trách cầu an cầu siêu cho lính đánh trận; có Gia đình Phật tử, có Khuôn hội, Niệm Phật Đường, làm Phật giáo sinh khí mở mang, tạo điểm tựa an lòng cho con người buổi tên bay đạn lạc, bom nổ mìn gài, chết dễ như không.


Sau năm 1975, miền Nam VN bị nhuộm đỏ. Giáo hội PGVNTN giải tán, viện Đại học Vạn Hạnh đóng cửa, nhà xuất bản Lá Bối, báo chí Phật giáo dẹp tiệm. Phật giáo Ấn Quang xưa nịnh nọt chế độ VC, nay buồn rầu vì không được đảng chiếu cố.
Phong trào tranh đấu Phật giáo chống độc tài lại manh nha. Ngoài lớp tu sĩ vượt biên tìm tự do, số cộm cán chống đối ở quốc nội như Thích Trí Siêu, Tuệ Sĩ, Hải Tạng, Trí Tựu, Huyền Quang, Quảng Độ, Thiện Hạnh đã cố gắng thắp lên ngọn lửa chống cộng sản, nhưng thảy bị lụi tàn vì thiên hạ không mấy ai ủng hộ họ cả.
Năm 1981, chế độ phần nào để Phật giáo cựa quậy trong cái lồng mới tô son trét phấn là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, tổ chức Phật giáo VN duy nhất trực thuộc Ban Tôn giáo Chánh phủ, nằm dưới sự chỉ đạo của đảng Cộng sản.
Khi Nga sô, Đông Âu sụp đổ, nguy cơ chế độ cáo chung, VC bèn tìm cách đổi mới toàn diện. Về phần giáo hội, một số sư sãi miền Nam cựu trào thân cọng hay có quá khứ VNCH, cũng được chế độ ban cho chút ít ân huệ, mời vô ngồi ghế giáo hội chầu rìa, làm phụ tá cho lớp "cao tăng" vốn có cốt đảng viên mang áo ông thầy tụng.
Hệ thống Phật to, Chùa lớn, Chuông vĩ đại xây dựng nhiều nơi. Thiền viện thắng cảnh huy hoàng, tượng bác Hồ trà trộn cùng tượng Phật, tượng Bồ tát, thiên hạ lạy lục cúng bái.
Điểm nhấn Phật giáo nước Nam ngày nay, có thể nói, là vị sư ông Nhất Hạnh bên Tây sáng tạo ra "đạo Bụt" lừng lẩy thế giới, được bọn người Tây đi theo đông đúc. Hít vào thở ra, nam nữ tu cùng, sư ông tu chung sư bà, con rơi hai đứa đều là "Thiền Sư Tử".
Ngài "sư bà" Thích Chân Không, nhủ danh Cao Thị Ngọc Phượng, được "sư ông" tôn thờ vị "Nữ Bồ tát" danh vang đình đám, đạo chúng tung hô.