Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

Cần phải hiểu cho cái ý khen dân của ông đại biểu Quốc hội Hà Minh Huệ.


Trí là trí não trí tuệ, trí độ suy nghĩ nhận thức của con người ta.
Trí mỗi người riêng tư cao thấp do cấu tạo não. Người trí cao được gọi là người khôn, người giỏi. Người trí thấp bị gọi dốt nát đần độn, xếp vô hạng rớt rơi tận đáy.
Người ta sống thành xã hội có cấp độ trí tuệ số chung trung bình cộng. Nước ta nay nói cho đơn giản chỉ có hai giai từng xã hội dân ta với đảng CS. Đảng chỉ với 5% dân số mà giành được độc quyền cai trị 95% dân ta.
Trí của đảng CS là trí tuệ siêu vi, siêu việt. Đảng có trí tuệ đỉnh cao đệ nhất nhơn loại. Đảng Việt có đảng Tàu là anh em bè bạn chiến lược số một. Đảng chống Mỹ cứu nước, đại thắng đế quốc lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Đảng đương đưa cả nước Nam tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc gấp gáp đi lên CNXH. Nền dân chủ nước Nam may nhờ có đảng mới tiến bộ gấp mấy triệu lần tư bổn đế quốc.
Trí của dân chúng gọi tắt là dân trí. Dân trí nước ta nhờ có đảng CS chỉ vẻ, dìu dắt, giáo dục, lãnh đạo nên chi mỗi một ngày lại càng thêm thông tuệ, sâu thẳm.
Trí đảng cao siêu cộng với trí dân sâu thẳm. Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa, nhơn loại thế giới nay đã đều nhứt trí công nhận nước VN mới là nước thông minh đệ nhứt địa cầu.
Thành thử khi mà phó Chủ tịch Hội nhà báo VN, đại biểu Quốc hội, ông Hà Minh Huệ nói dân chủ ta có hạn, dân trí ta còn rất thấp - đã khiến cho toàn đảng toàn dân An Nam ít nhiều câu kêu ca phản đối. Tuy nhiên, cần hiểu cái ý ngài Huệ muốn nói ra cũng là để ngấm ngầm khen dân nước Nam ta biết "ngu si hưởng thái bình".

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015

Ngũ uẩn giai không.


"Ngũ uẩn giai không thoát nghiệp trần 
Tùy duyên ứng hiện bách thiên thân. 
Mộng trung ngộ mộng, trùng mê mộng 
Thân ngoại phi thân, khước thị thân..."
Uẩn là cái cất dấu, dú diếm, là những bí mật khó nói khiến nảy sanh tò mò. Cô gái ngồi dựa gốc cây gục đầu nghĩ ngợi, tóc tai bù xù rối rắm. Thiên hạ bèn đánh một dấu hỏi, không biết cô nầy uẩn khuất sự tình chi mà rầu rĩ vậy ?
Vị đi chùa nói Ngũ uẩn giai không là năm cái thứ zê rô hết cả. Ngũ uẩn gồm sắc thọ tưởng hành thức, ràng buộc lại cấu kết mà nên cái tôi mỗi người.
Sắc là cái thân xác vật thể ta đương hiện hữu. Thọ tức là thụ, sự cảm thụ sắc giới nhờ năm giác quan nhìn nghe sờ nếm ngửi. Tưởng là tưởng tượng vật đẹp vật xấu, vật ác vật hiền, vật phản động vật văn minh. Hành là hành động, hành xác, hành thân vì mê muội vui sướng, vì đành hanh, giận hờn tức tối. Thức là biết thức nhận giai do sự thể rồi động đậy sanh ra thiện, ác nghiệp.


Mỗi người có nỗi khổ riêng của mình. Khổ vì tình, tiền, nhà cửa, học hành thi cử, công ăn việc làm, đau ốm bệnh hoạn, ơn đi nghĩa lại, xin xỏ chạy chọt, cạnh tranh quan trường, lấn đất lấn đai, giải tỏa dân oan, phường xã đóng dấu. Khổ vì cha mẹ vợ con cháu chắc, anh em bè bạn lân lý xóm giềng. Khổ vì thiên tai lụt bão sóng thần động đất hạn hán tiêu điều.
Người nghèo khổ, người giàu khổ, kẻ vô danh khổ, người nổi tiếng khổ, ông tiên ẩn trong động khổ, vị thầy tu trong chùa khổ. Hòa thượng khổ theo kiểu Hòa thượng, Chú điệu khổ theo cách Chú điệu. Sống đâu khổ đấy, đồng bằng khổ, lên núi khổ, vô rừng khổ, ra đảo khổ, định cư khổ, di cư càng thêm cơ khổ...
Vị đi chùa giải thích đơn sơ rằng giai do thiên hạ đều thấy khổ tự vì ngũ uẩn cấu kết thành cái tôi, luôn biến động vô thường mà ra cảm giác ấy. Ngũ uẩn giai không, vô thường vô ngã khổ sở. "Đời sống của mỗi chúng ta thực chất chỉ là một chuỗi hiện tượng thân tâm, một chuỗi hiện tượng đã hoạt động vô lượng kiếp trước khi ta sinh ra và sẽ còn tiếp tục vô tận sau khi ta chết đi. Ngũ uẩn này, dù riêng lẻ từng uẩn hay hợp chung lại, chúng không hề tạo thành một cái gì gọi là cái ta. Ngoài chúng ra, không còn cái gì được gọi là một thể của cái ta độc lập với chúng, để ta tạm gọi nó là cái ta. Lòng tin có một cái ta, có một nhân cách độc lập chỉ là một ảo tưởng".

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Kỳ diệu bản kinh "Bát nhã Ba la mật đa".


Tàu phiên âm chữ Phạn "Prajñā" ra thành "Bát nhã", nghĩa tiếng Việt là "sự hiểu biết". Còn chữ "Pāramitā" thành ra "Ba la mật đa", theo tiếng Việt nghĩa bóng là "bờ Giác ngộ". Thành ra kinh Bát nhã ba la mật đa có thể hiểu bản kinh khai sáng trí tuệ để giác ngộ.
Truyền thuyết nói thế kỷ thứ II bên Ấn Độ có ngài Long Thọ Bồ tát lý thuyết rất hay được một rắn thần Hổ mang mời về Thủy cung diễn thuyết cho Long vương nghe. Long vương cùng gia quyến nghe rồi quá đã, bèn tặng ngài một bổn kinh Phật long gia truyền là bộ kinh Bát nhã Ba la mật đa kỳ diệu.
Triều nhà Đường, vua Lý Thế Dân phái Pháp sư Tam Tạng qua Ấn Độ thỉnh về khảo cứu. Tam Tạng cùng ba vị đệ tử Tôn Hành Giả, Bát Giới, Sa Tăng vượt núi băng rừng đem kinh về nước. Ngài Tam Tạng san dịch qua tiếng Tàu, đọc kinh ấy như sau.
"Bát nhã Ba la mật đa tâm kinh. Quán tự tại bồ tát hành thâm Bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị. 
Xá Lợi Tử ! Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.


Dĩ vô sở đắc cố, bồ đề tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố vô hữu khủng bố; viễn ly điên đảo mộng tưởng; cứu cánh niết bàn. Tam thế chư Phật y Bát nhã ba la mật đa cố đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha."
Dịch nghĩa:
Tâm kinh Giác ngộ trí huệ. Bồ tát Quán tự tại ngâm cứu bài kinh giác ngộ trí huệ, ngài thấy rõ Ngũ uẩn đều là "Không", từ đó giải thoát được hết kiếp nạn.
Nầy thầy Xá Lỵ ! Vật không khác gì không. Không không khác gì vật. Vật là không. Không là vật. Thọ, Tưởng, Hành, Thức đều tượng tợ như thế đó thôi.
Nầy thầy Xá Lỵ ! Các hình hài vật thể thảy đều là Không tướng. Không sanh đẻ không chết chóc. Không nhớp nhúa không sạch sẽ. Không tăng thêm không giảm bớt. Vì vậy trong Không sẽ không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, ý tưởng; không có màu sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc giác, hình hài. Không có thế giới của con mắt nhìn, cũng không thế giới ý thức.
Không có tăm tối nên cũng không có sự tăm tối kết thúc. Cũng không có sự chết già nên không thể có sự già lão rồi chết. Không có sự khổ sở, lý do khổ sở, hết khổ sở, và không cả con đường diệt khổ.


Không có trí tuệ cũng không có đắc đạo, và do không có sự sở hữu đắc đạo nên những vị Bồ tát khai ngộ lấy Phật pháp mở đường chỉ lối dìu dắt chúng sanh phải dùng kinh Giác ngộ trí tuệ này ra để làm việc. Tâm không ngại ngùng, đừng quá ngại ngùng, không dùng cách thức khủng bố, xa rời những mộng tưởng điên loạn để đến cõi cứu cánh Nát bàn.
Ba thế giới chư Phật dựa vào kinh Giác ngộ trí tuệ này mà chánh được vô thượng đẳng chánh giác (a nậu đa la tam miệu tam bồ đề). Nên chi hãy cố hiểu cho, kinh giác ngộ trí tuệ này là một đại thần chú, một đại minh chú, một vô cùng cao cấp chú, một đẳng cấp vô địch chú, có khả năng tiêu trừ đến mỗi một khổ sở. Đó là điều chân thật chớ không hư cấu.
Đọc thần chú Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức cũng là đọc lời chú nầy: "Vượt qua. Vượt qua. Vượt qua bên kia. Hoàn toàn vượt qua. Đến bờ Giác ngộ".

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

Kính mừng Phật đản 2559.


Phật giáo Bắc tông Mahayana nói cách đây 2559 năm, Phật tổ đản sanh vào ngày 8 tháng Tư ở xứ Ni bạc nhĩ bên dãy Hy mã lạp sơn. Năm 544 trước CN, bà Hoàng hậu Maya mộng thấy một con voi trắng rồi thọ thai. Bà Maya lúc đi dạo trong công viên Lân tỳ ni, thấy mệt bèn ngồi nghỉ dưới gốc cây Vô Ưu rồi đản sanh đức Phật. Khi mới ra đời, Phật tổ bước đi bảy bước, mỗi bước nở một đóa sen dưới chân, rồi ngài dừng lại, tay phải chỉ lên trời, tay trái chỉ xuống đất mà rằng "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn".
Phật giáo Nam tông Theraveda thời lấy ngày 15 tháng Tư âm lịch hằng năm làm lễ kỷ niệm Tam hợp (Phật đản sanh, Phật thành đạo, Phật nhập Nát bàn) vừa hay vừa gọn vừa đẹp.
Nhận thấy ngày rằm tháng Tư âm lịch trăng tròn ý nghĩa, đại hội Phật giáo thế giới lần thứ nhứt họp ở Colombo (Tích Lan) ngày 25 tháng 5 năm 1950, các phái đoàn đến từ 26 quốc gia đã thống nhất chọn ngày rằm tháng Tư âm lịch hằng năm làm ngày kỷ niệm đại lễ Phật Đản trên thế giới"


Ở vùng đồi núi Kandahar xứ Afghanistan Hồi hột, khảo cổ học phát hiện cột đá dựng thời vua A Dục (sanh sau Phật Tổ 250 năm), chỉ dụ khi làm lễ Phật Đản thì phải tổ chức lễ rước kiệu Phật hài đồng. Sách "Cao tăng truyện" China viết thời Ngũ hồ thập quốc nói đời Đông Tấn (319-351), ngày lễ Đản sanh Phật tổ đã có tục tắm tượng Phật hài nhi bằng nước mưa trong ngâm cánh hoa hồng. Ngày nay, lễ Phật Đản có tổ chức tắm tượng Phật, kiệu tượng Phật đi diễn hành chính là sự xưa bày nay làm phục dựng.
Đêm rằm Phật đản, thiên hạ chộn rộn đổ xô ồ ạt đi rước tượng Phật, dòng người nối đuôi nhau chen chúc bất tận kính Phật chuộng Bác, mới hay quê ta rất sùng đạo đảng.
Nhìn lên Trời, ngó thấy mặt trăng tròn vành vạnh, bèn nhớ đến một hai sự đọc.
- Sách "Thuật xử thế của người xưa", cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần viết:
Một ngày kia, Phật chỉ trăng, bảo các đệ tử: “Kia là mặt trăng: cứ ngó theo ngón tay ta thì thấy. Nhưng, nên nhớ: ngón tay ta không phải là trăng.
Những lời ta giảng về Đạo cũng vậy: các con cứ nghe theo lời ta giảng mà tìm Đạo. Nhưng, nên nhớ: lời giảng của ta không phải là Đạo”.
- Thơ "Vịnh tỉnh trung nguyệt", ngài Lý Khuê Báo ở Korea (1169-1241) viết:
"Sơn tăng tham ánh trăng vàng
Một thùng đầy ắp múc mang về chùa.
Đến sân tăng mở thùng ra
Nghiêng nghiêng chẳng thấy đâu là vừng trăng."