Thứ Hai, 12 tháng 12, 2011

Chuyện giải pháp nọ này.

Giải pháp là phương pháp giải cho ra vấn đề. Đời người ta, ai mà lại không có chuyện gay go cần thiết giải pháp ? Một đất nước đông dân vô số, mỗi người mỗi ý, thời những giải pháp cộng đồng thường mấy bộ óc siêu việt quyết định. Tìm giải pháp ích lợi quốc gia dân chúng đồng ý chấp nhận, ấy điều căng thẳng nghề lãnh đạo.
Đối với người Do Thái, giải pháp nào chận đứng Iran có võ khí nguyên tử, là chuyện quyết định số phận. Iran hằn học đòi xóa sổ Israel khỏi bản đồ thế giới đâu chỉ nói vui. Phong trào ném đá rồi đánh bom tự sát, chuyện quân khủng bố Palestine tới bọn Hezbullah phóng rocket vô mấy khu dân cư Do thái là thường kỳ.
Bọn người cực đoan Hồi giáo sẵn lòng "Thánh tử đạo" diệt thù, đâu áy náy chi đâu. Không tặc Ả rập cướp máy bay lao vô tháp đôi, tao chết mi chết không phải chuyện lạ. Nên Hồi giáo Iran mà có bom nguyên tử, lắp tên lửa phóng tới Tel Aviv, giết hết kẻ thù truyền kiếp, ắc sẽ đương nhiên.
Dân tộc Do Thái hằng trăm năm bị kỳ thị đọa đày, bị phát xít Đức đưa vô lò thiêu xác mà nướng, nay tỉnh ngộ rồi. Đọc cho hết cuốn " Về miền đất hứa" của Leon Uris mới thật hiểu trí thông minh, tính dũng lược Do Thái, biết cách họ sẽ làm cứu nguy tổ quốc Israel.
Israel dùng giải pháp mạnh, quyết đoán, dứt khoát diệt mầm mống tai họa sẽ xảy ra thôi.
Có lẻ kịch bản như vầy, Israel dùng đòn đánh phủ đầu vô Iran, người Iran trả đũa. Anh, Mỹ cùng thế giới tự do nhảy vô ủng hộ Israel. Nga, China cộng thế giới độc tài hò hét hung hăng cứu trợ Iran. Đầu đạn hạt nhân sẽ được đem ra nói chuyện phải trái, đệ tam thế chiến bùng nổ, ngày tận thế đến như sách đá của người Maya tiên tri.



- Cổ đại văn minh Hy lạp có chuyện đốt đền như sau :
Thanh niên Herostratos xứ Hy lạp quá sức thèm thuồng nổi tiếng, mơ được ghi tên vô lịch sử, bèn nghĩ ra một "giải pháp" hết chỗ bàn. Ấy là tại Ephesus có một đền đá cẩm thạch thờ nữ thần săn bắn Artemis, được coi là một trong 7 kỳ quan cổ đại. Herostratos tới ngôi đền này, và ngày 21/7/356 BC, hắn châm lửa đốt đền chơi.
Bị bắt ra tòa, gã này không hề lẩn chối mà rất sung sướng, tự hào nhận trách nhiệm tự tay châm lửa, nói rằng đốt đền để được ghi danh sử sách.

Tránh ý muốn điên loạn của tên tội phạm này trở thành hiện thực, chánh quyền Ephesus xử tử Herostratos, xóa hết tên tuổi, vô danh tuyên án.
Ấy, sự kiện này vẫn được sử gia cổ đại Theopompus ghi chép. Nên dù muốn dù không, cái tên Herostratus ấy cũng đi vào lịch sử, tên một kẻ đốt đền.
Hùm chết để da người ta chết để tiếng. Tiếng xấu tiếng tốt đều gọi là tiếng cả. Để được tiếng tốt lại rất khó, còn làm việc xấu cho thiên hạ chửi thời dễ, còn lây lan nhanh lắm.
Thời nay không ít kẻ điên loạn nổi máu đốt đền cầu danh tiếng. Tiếng lành thời không đồn xa, tiếng xấu vang tới hai ba ngày đường. Bia đá bảng vàng chưa tới 100 năm đã điêu tàn đổ nát. Bia miệng người cả 1000 năm hãy còn trơ trơ.


- Chuyện "tháo gút Gordian", hay "giải pháp A Lịch Sơn", như sau :
Vào cái ngày Herostratus đốt đền, vị vua Philipos xứ Macedonia có vợ tên Olympias đã hạ sinh đứa con trai đặt tên Alexandros. Lớn lên nối ngôi vua cha, Alexandros là một người thông minh, dũng cảm, thích gây ra chiến tranh trận mạc, chinh phục thế giới.
" Alexandros chỉ muốn đất nước mình gặp khó khăn hay gây chiến tranh. Lúc đó chàng sẽ có môi trường lớn để thử thách lòng dũng cảm của mình và ghi lại dấu ấn của mình trong lịch sử. Chàng khinh thường cuộc sống no đủ và lười biếng."
Truyền thuyết kể lại, vua xứ Gordius đưa ra câu đố, có một cái nút thắt rối nùi rồi hỏi xem ai tháo được, kẻ đó sẽ là người cai trị châu Á tương lai.
Alexandros mở hoài không ra, bèn lấy kiếm chặt 1 cái, đứt luôn cái nút.
Quả nhiên, Alexandros kéo đại binh đi chinh phục, cai trị đế quốc Macedonia kéo dài từ Hy Lạp đến tận Ấn độ. Ông trở thành một đại đế nổi tiếng vô cùng.
Gordian Knot, hay giải pháp Alexandre ấy là bài học về một vấn đề tưởng chừng nan giải, nhưng thật ra cách giải quyết lại hết sức đơn giản.




Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2011

Mở nắp keng.


Nghệ sĩ thời nào cũng hay buồn. Khi buồn thời uống rượu, uống rượu tiêu sầu.
" Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba thu dồn lại, một ngày dài ghê..."
Cái buồn chán rót bằng chén rượu, hủ chìm hủ nổi càng lắc càng đầy, uống khỏi sợ hết.
Thủy Hử truyện có Giáo đầu Lâm Xung trời mưa tuyết giá hâm rượu cho nóng lên, uống một mình. Rồi thêm Đề hạt Lỗ Đạt trốn vô chùa Ngũ Đài Sơn, làm Trí Thâm hòa thượng, thèm rượu chêm mồi thịt chó. Uống say đem về chùa bét miệng tăng chúng.
" Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười
Thôi công đâu chuốc lấy sự đời
Tiêu khiển một vài chung lếu láo..."
Rượu tiếng Tàu kêu tửu. Có giáo sư văn chương quá giỏi lý luận phê bình bị đuổi dạy, về bốc thuốc Bắc mà sống tên là Trương Tửu. Căn do ông bị tên thi nô buộc tội "trốt kít".
" Lật bộ áo "Nhân Văn - Giai Phẩm" thối tha, người ta thấy ra cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, trốt-kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm.
Trong cái công ty phản động "Nhân Văn - Giai Phẩm" ấy thật sự đủ mặt các loại "biệt tính": từ bọn Phan Khôi, Trần Duy mật thám cũ của thực dân Pháp đến bọn gián điệp Thụy An, từ bọn trốt-kít Trương Tửu, Trần Đức Thảo đến bọn phản Đảng Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt.
Một đặc điểm chung là hầu hết bọn chúng đều là những phần tử thuộc giai cấp địa chủ và tư sản phản động, và đều ngoan cố giữ lập trường quyền lợi giai cấp cũ của mình, cố tình chống lại cách mạng và chế độ.". Một số tội trạng :
1. Kích thích chủ nghĩa cá nhân tư sản, bôi nhọ chủ nghĩa cộng sản.
2. Xuyên tạc mâu thuẫn xã hội, khiêu khích nhân dân chống lại chế độ và Đảng lãnh đạo.
3. Chống lại chuyên chính dân chủ nhân dân, chống lại cách mạng xã hội chủ nghĩa.
4. Gieo rắc chủ nghĩa dân tộc tư sản, gãi vào đầu óc sô-vanh chống lại chủ nghĩa quốc tế vô sản..."


Về Trương Tửu, một người học trò cũ của ông nói :
" Tôi học thầy Trương Tửu niên khoá 1954-1957. Với tôi, thầy Tửu là người mà cả lớp đều phải kính phục về tính thông minh. Tôi chưa thấy ai giảng hay như thầy, kể cả đọc cũng rất hấp dẫn.
Tôi còn nhớ, khi nghe thầy đọc bài “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, đến nửa lớp chúng tôi đứng dậy để nghe. Điểm đặc biệt nữa ở thầy là luôn tạo cho học sinh phương pháp tư duy. Tôi rất kỳ lạ bởi thầy học môn xã hội mà lại có phương pháp tư duy khoa học như thế. Thầy còn rất quý học sinh, giữa chúng tôi và thầy không hề có khoảng cách. Thầy coi chúng tôi như con và chúng tôi cũng coi thầy như cha ".
Lại có bạn cố tri ông Tửu, nhà văn Nguyễn Vĩ chủ bút nguyệt san Phổ thông ở miền Nam hồi trước, viết bài thơ dài " tặng Trương Tửu". Nay nhớ mấy đoạn như vầy :
" Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác,
Mà vẫn coi tiền như cỏ rác.
Kiếm được đồng nào đem tiêu hoang,
Rủ nhau chè chén nói huênh hoang.
Xáo lộn văn chương với chả cá,
Chửi Ðông, chửi Tây, chửi tất cả,
Rồi ngủ một đêm mộng với mê,
Sáng dậy nhìn nhau cười hê hê !
Bây giờ thời thế vẫn thấy khó,
Nhà văn An-nam khổ như chó!
Mỗi lần cầm bút viết văn chương,
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương...


Chứ như bây giờ là trò chơi !
Làm báo làm bung chán mớ đời !
Anh đi che tàn một lũ ngốc,
Triết lý con từu, văn chương cóc !
Còn tôi bưng thúng theo đàn bà,
Ra chợ bán văn ngày tháng qua !
Cho nên tôi buồn không biết mấy !
Ðời còn nhố nhăng, ta chịu vậy... "
Qua chuyện Nguyễn Vĩ, ông này xưa đi chơi chùa Hương với Nguyễn Nhược Pháp, gặp cô bé 15 tuổi hành hương cùng mẹ, miệng niệm A Di Đà Phật quá dễ thương. Ông Pháp về làm bài " Chùa Hương ", thơ đặc sắc.
Đọc cuốn " Văn thi sĩ tiền chiến " của Nguyễn Vĩ viết, người ta mới biết đích xác tác giả của " Hai sắc hoa tigôn " chính là Thâm Tâm Tuấn Trình. Trình lấy tên cô bồ cũ Trần Thị Khánh viết tắt TTKh bút danh mới thêm chuyện mơ hồ thiên hạ xon xen mạo nhận.
"Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người..."


Nguyễn Vĩ kể chuyện uống rượu với Tản Đà :
" Sau khi tuần báo Phụ nữ đăng bài thơ "Gởi Trương Tửu" của tôi, một buổi chiều tôi đến chơi ở tòa báo, bỗng thi sĩ Tản Đà từ bên ngoài bước vào. Một chiếc khăn đóng đã viền mòn, đáng lẽ đội trên đầu ông lại đeo tòn teng trong cánh tay. Vẫn chiếc áo lương thâm cũ mà tôi đã thấy ông mặc năm năm trước. Ông hỏi cô thư ký:
- Có ông Nguyễn Vỹ ở đây không ?
Cô bạn cười chỉ tôi:
- Thưa ông, Nguyễn Vỹ đây ạ.
Ông đưa tôi lên tàu điện, phố Hàng Bông. Nửa giờ sau đến một gian nhà ở ấp Thái Hà, nhà của ông. Ông lấy chai rượu và hai cái cốc ra. Tôi không biết uống rượu, nhưng vì xã giao không dám nói ra, sợ phật ý thi sĩ có tiếng là “Lưu Linh Việt Nam”. Tôi cứ để mặc ông rót rượu ra cốc... ông bắt đầu hỏi tôi:
- Tôi thích bài thơ Gởi Trương Tửu của ông, nên mời ông uống rượu. Trương Tửu là ai ?
- Thưa cụ, bạn cháu ạ.
- Ông ấy có biết uống rượu không ?
- Dạ, anh ấy tên là Trương Tửu, thì cụ khỏi hỏi ! Vả lại dòng dõi Trương Phi đấy ạ !
- Hôm nào rủ ông ấy đến uống rượu với tôi.
- Dạ.
- Nhưng tôi giận ông lắm vì một câu trong bài thơ của ông. Tôi định gặp ông thì tôi bảo.
- Thưa cụ, câu nào ạ ?
- Sao ông lại bảo: Nhà văn An Nam khổ như chó ? Ông so sánh nhà văn chúng ta với kiếp chó, mà ông không hổ thẹn ư ?
- Thưa cụ, nếu cháu so sánh nhà văn với chó, thì chó nó thẹn, chớ sao nhà văn lại thẹn ?
Ông Tản Đà làm thinh nốc hết ly rượu, rồi rót luôn một ly nữa. Mặt ông vẫn chưa đỏ. Bỗng dưng ông phì cười, tiếng cười nổ lên đột ngột và kêu to, làm tôi giật mình. Xong, ông nói, không ngó tôi : “Ông làm tôi bượch cười !”, ( ông Tản Đà hay nói bượch cười). Rồi ông rưng rưng nước mắt..."


Chuyện Nguyễn Vĩ thời dài dòng, ổng viết " Tuấn, chàng trai nước Việt" , viết báo nổi tiếng cô Lệ Chi, bà Diệu Huyền. Đọc báo Phổ thông hay Thằng Bờm phải khâm phục tài viết. Ấy không biết sao, Hoài Thanh chê thơ quá ác :
"Nguyễn Vỹ chí lớn mà tài nhỏ nên hay lập dị, chứ thật sự ít có thành tích văn chương"."Nguyễn Vỹ đã đến giữa làng thơ với chiêng trống, xập xoèng inh cả tai. Chúng ta đổ nhau xem. Nhưng chúng ta lại tưng hửng trở vào vì ngoài cái lối ăn mặc và những điệu bộ lố lăng, lúc đầu ta thấy con người ấy không có gì..."
Về cụ Tản Đà, có tật nghiện rượu thời cũng có nhiều thơ hay về rượu :
“ Cảnh đời gió gió, mưa mưa
Buồn trông ta phải say sưa đỡ buồn
Rượu say ta lại khơi nguồn
Nên thơ rượu cũng thêm ngon giọng tình
Rượu thơ mình lại với mình
Khi say quên cả cái hình phù du
Trăm năm thơ túi, rượu vò
Ngàn năm thi sĩ tửu đồ là ai ? ”


Nhà thơ Trần Huyền Trân có bài "Mộng uống rượu với Tản Đà" cũng hay :
" Cụ hâm rượu nữa đi thôi
Be này đã cạn hết rồi còn đâu !
Rồi lên ta uống với nhau
Rót đau lòng ấy vào đau lòng này
Say đâu ? Lòng chửa được đầy
Cái đau nhân thế thì say nỗi gì ?
Đường xa ư cụ ? Quản chi !
Đi gần hạnh phúc là đi xa đường...
Rót đi, rót... rót đi thôi
Rót cho tôi cả năm mươi tuổi đầu
Nguồn đau cứ rót cho nhau
Lời say sưa mới là câu chân tình ”
Bây giờ mới đến chuyện mở nắp ken. Thời nay, uống rượu ta VN dễ chết ngộ độc thuốc rầy, có điều kiện uống rượu tây chỉ mấy dân VIP. Nhưng uống với bọn này chán phèo chuyện tục màng mở nhầy nhụa.
Uống bia mùa lạnh, bụng đầy hơi anh ách nặng nề khó chịu. Chưa kể trẻ uống nhiều quá, gan thận lộn tùng phèo, người lớn tuổi uống vài ly, tàn cuộc uống đau nhức nằm quệ.
Uống bia chiều với bọn thợ nề xong việc thật là hào sảng. Quý hồ đa bất quý hồ tinh, càng nhiều càng tốt. Uống như trâu khát nước, mở nắp keng ào ào. Đủ chuyện đời đặc sắc.
Ai nói cứ nói,ai nghe cứ nghe, ai uống cứ uống.
Uống với đám cán bộ đảng, im lặng hồi lâu rồi nói : Thôi, uống uống...



Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2011

Nước mắt rồi cũng nhạt nhòa.


Trời đánh tránh bữa ăn, người ta ngồi ăn cơm gặp lúc dông sét, dẫu phải tội lắm trời cũng không nở cho thiên lôi đả tử, đợi qua bữa ăn rồi mới sai đánh. Ấy do ông trời cũng biết bất nhẫn, sợ mang tiếng ác giết người phải bữa.
Ngày Tết, trong đêm Giao thừa người ta khăn đen áo dài, bày biện bông chuối bái lạy trời đất, cúng ông bà tổ tiên liệt tông liệt tổ, mời thần linh đất đai trong cửa trong nhà về đón xuân "mừng đảng". Chọn thời điểm này, lệnh cho bích kích pháo dội lửa đạn vô xóm làng nhà cửa, khai hỏa "tổng tiến công", xuất kỳ bất ý bất độc bất hùng, ấy chắc đại thắng.
Xuân Mậu Thân 1968, Lê Duẩn quyết định vung "một cú đập lớn để tung tóe ra các khả năng chính trị" khiến cho toàn miền Nam VN ngập trong khói đạn chết chóc, nhà cửa cháy đổ, xác người đầy đường đầy sá.
- Đêm 30-1-1968 (đêm 29 rạng ngày 30 Tết), quân VC pháo kích, sử dụng bộ binh, đặc công đánh vào Bộ tư lệnh Quân đoàn 1 VNCH ở Đà Nẵng, Hội An, sân bay Đà Nẵng, sân bay Non Nước, Nha Trang, Đắc Lắc, Plây cu, Quy Nhơn (Bình Định).
- Đêm 31-1-1968 (đêm 30 rạng mồng 1 Tết), tiến công bằng bộ binh, đặc công, pháo kích vào các tỉnh, thành phố Quảng Trị, Huế, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Phong Định, Vĩnh Long, Cần Thơ.
- Đêm 1-2-1968 (đêm 1 rạng ngày 2 Tết), tiếp tục đánh vào các tỉnh lỵ khác: Kiến Hòa, Định Tường, Gò Công, Kiên Giang, Vĩnh Bình, Bình Dương, Tuy Hòa, Biên Hòa, Tuyên Đức, Châu Đốc, Long Xuyên.


Cụ Hồ ở miền Bắc gửi thư chúc tết người Việt :
Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,

Thắng trận tin vui khắp nước nhà.

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,

Tiến lên ! Toàn thắng ắt về ta.

Bị tập kích quá bất ngờ ngay ngày mồng một Tết, người dân và lính tráng VNCH, quân Mỹ cùng đồng minh đã lãnh đủ thiệt hại. Nhiều vùng nông thôn, đô thị miền Nam lọt vào tay quân "giải phóng". Những cán binh Bắc Việt, du kích địa phương nằm vùng, tranh thủ được quyền sinh sát mà ra sức chôn sống nhiều người, "diệt ác, trừ gian" !

Tết Mậu Thân 1968 tính tới nay đã qua gần 44 năm rồi. Ai chứng kiến cái tết khủng khiếp đó nay đã bước qua tuổi già, không còn muốn nhắc lại mấy chuyện buồn ấy làm gì. Thế hệ trẻ thời ít quan tâm quá khứ. Người ta coi trọng mấy danh vị xã hội, sự giàu có đại gia, xe hơi nhà tấm máy bay riêng, có bồ nhí nhố chân dài bốc lửa. Sự trọng giá trị người, biết quý lấy đạo nghĩa coi như nay chấm hết, nói chi đến mấy chuyện đau đớn xa xưa.
Nhân xem lại mấy ảnh của tạp chí Life về chiến tranh VN, bồi hồi nhiều chuyện cũ.
Những bất hạnh kiếp người trót sa bom đạn để nhắc nhở, dù có bao biện lý do thơm thảo thế nào đi nữa thì kẻ gây ra chiến tranh cũng phải mang tội ác.

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2011

Bây giờ tháng mấy ?


Cảm giác lâu mau thời gian chắc chắn là quy ước mà thôi. Học trò giỏi làm bài thi thấy giờ phút sao qua mau quá, học trò dốt nát ngồi phòng thi không biết viết gì, chắc cú mình rớt bèn vẽ bậy vẽ bạ, đợi hết giờ mà về sao lâu lắc quá. Đứng bên chắn gác tàu lửa khi đang vội việc, chỉ dăm phút mà thấy đốt gan ruột, như đợi cả ngày. Ngồi vô máy tính, lướt vội vả mấy web thích thú, chưa kịp xem gì, ngó lại đã thấy mất 2,3 tiếng rồi.
Lúc trẻ thấy thì giờ qua sao lâu quá lê thê, khi già lại luôn kinh hãi rên rỉ thoi đưa ngày tháng, chưa chi xong hết một ngày. Trẻ uống nước trà, già tập thể dục. Khi nha nhẫn thẩn thờ, khi chạy đua hết tốc lực hoài bảo công việc.
Tuổi trung niên nhiều lưu vong hải ngoại, đợi chờ đất nước tự do, mộng mị quê hương thành công dân chủ. Trước khi mình nhắm mắt xa trời chết cũng nhắm mắt.
Người 80,90 vẫn thầm mong tổ quốc đổi thay.


Nghĩ thương về nhiều vị nặng lòng dân chủ tự do đã quy tiên trước ngày độc tài Âu, Nga đổ sụp, không có cái may mắn biết xứ họ tự đứng lên quẳng đống rác bẩn thỉu vô sọt rác.
Thời kỳ chiến tranh, Trịnh Công Sơn viết nhạc cho những ngày dài trên quê hương VN quằn quại ngục tù, người già chờ đợi mấy chục năm da diết. Bao nhiêu năm chờ quên cả sống, chờ hòa bình, chờ được tới ngày "tự do" !
Thời kỳ chiến tranh, Từ Công Phụng quên biếng tháng ngày, nhớ nhớ về cái ngày áo em đẹp màu thơ trong nắng vàng mà bâng quơ hỏi bây giờ tháng mấy.
Nay nghe lại mấy nhạc bản, cũng tự hỏi bây giờ tháng mấy rồi vậy ?