Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Nỗi đau khổ của dân Việt trong thời đại Bắc thuộc.


Xưa người Tàu cai trị độc ác thế nào, điều ấy ai cũng biết.
Nhưng có gì làm cho người ta chóng giác ngộ bằng đau khổ ? Mà dân tộc VN lúc bấy giờ đã đau khổ đến cùng cực, phần thì bị người Tàu bóc lột, phần thì bị người Nam Chiếu từ Tây Bắc đánh xuống, người Lâm Ấp trong Nam đánh ra.
Những năm sử cũ không chép điều gì chính là những lúc nhân dân im hơi lặng tiếng, nhẫn nhục qua ngày; rồi đến khi không kham, nổi dậy lên, để mà bị đàn áp một cách dã man.
Những nỗi đau khổ ấy, ngày nọ sang ngày kia, làm cho người Việt lần lần tha thiết yêu mảnh đất đã tưới biết bao nhiêu mồ hôi máu lệ của họ.
Họ thấy cần chung lưng đấu cật với nhau, cần hợp sức lại mới giành được quyền tự chủ, quyền sống trên mảnh đất này.
Nỗi lòng thương đất nước nòi giống, tinh thần quốc gia được cùng với thời gian hun đúc thêm, củng cố thêm, nhất là sau khi những anh hùng đã để lại nhiều kỷ niệm xán lạn huy hoàng. Sau hai bà Trưng có bà Triệu, các ông Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan...
(Theo Việt Sử khảo lược - Dương Kỵ)


Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

Ngồi đan sọt mà lo việc nước - Phạm Ngũ Lão.


Phạm Ngũ Lão quê ở làng Phù Ủng, tỉnh Hưng Yên. Mồ côi cha từ thủa nhỏ, tuy nhà nghèo nhưng ông có chí lớn. Bản tánh thông minh, ông lại năng học tập, nên văn võ đều giỏi cả.
Lúc ông 20 tuổi, trong làng có người đỗ Tiến sĩ, cả làng kéo đến mừng, riêng ông không đến, bà mẹ hỏi, ông thưa:
- "Con chưa nên sự nghiệp để vui lòng mẹ. Nay đi mừng người, con lấy làm nhục lắm."
Một hôm ông ngồi trước cửa nhà bên vệ đường, vót tre đan sọt, gặp lúc Trần Hưng Đạo đi ngang qua, tiền hô hậu ủng, ông vẫn ngồi yên tĩnh. Quân lính thét bảo đứng dậy, ông thản nhiên như không. Quân lấy giáo thích vào đùi, máu chảy dầm dề, ông vẫn trơ trơ như tượng đá.
Hưng Đạo Vương đi tới, lấy làm lạ, dừng lại hỏi. Ông giật mình đứng dậy lễ phép thưa:
- "Kẻ quê này đang mải nghĩ đến một trận thế phá giặc để thất lễ với Đại vương, xin tạ tội".
Vương lại hỏi đến kinh sử, binh thư thì ông ứng đối trôi chảy. Vương biết là người tài, bèn cho ngồi xe đưa về Kinh, tiến cử coi vệ binh.


Khi quân Nguyên sang đánh nước ta, ông giúp Trần Hưng Đạo thắng nhiều trận lớn ở Nghệ An, Chương Dương và Lạng Sơn nên được phong chức Đại tướng.
Ông trị quân có kỷ luật, đối đãi với quân lính như cha con, vui khổ cùng chia sẻ, người ta thường gọi quân của ông là "Phụ tử chi binh".
Nhờ thế về sau, ông còn đi đánh quân Lào và quân Chiêm Thành, trận nào cũng toàn thắng.
Trải ba triều vua, Phạm Ngũ Lão đều một lòng trung chánh, đem tài bách chiến để giữ gìn đất nước, nên được phong tới chức "Điện tiền Thượng tướng quân".
Nhận xét:
Thấy mình kém người mà biết hỗ thẹn, sửa mình rèn chí mà nên sự nghiệp, Phạm Ngũ Lão đã treo gương tự lập cho người đời.
(Theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

Vì nước quên thù nhà - Trần Hưng Đạo


Vua Trần Thái Tông lấy bà Lý Chiêu Hoàng đã được 12 năm mà chưa có con.
Bà Thuận Thiên Công chúa vợ Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông) có mang được 3 tháng. Thái sư Trần Thủ Độ bắt vua Thái Tông bỏ bà Lý Chiêu Hoàng và lập bà Thuận Thiên Công chúa lên làm Hoàng hậu !
Vì vậy Trần Liễu tức giận gây loạn, nhưng thất bại.
Trước khi chết, chưa hết căm hờn, Trần Liểu gọi con là Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) lại bên giường mà trối rằng: "Sau này nếu con không báo thù cho cha mà lấy thiên hạ thì dưới suối vàng cha không hả dạ".
Hưng Đạo vẫn nhớ lời cha nhưng không cho là phải. Khi quân Mông Cổ tràn sang đánh nước ta, ông nhất quyết gạt bỏ thù nhà để lo đền nợ nước.
Ông vâng mệnh cầm binh, ngày đêm quên ăn quên ngủ, không quản nguy hiểm khó nhọc, quyết phá tan quân giặc giữ gìn đất nước. Lúc ông lui binh về Vạn Kiếp, vua ngự thuyền đến tìm ông nói rằng;
- Thế giặc quá to, đánh nhau lâu sợ hại cho dân, hay là trẩm ra hàng để cứu muôn dân ?
Ông khẳng khái tâu rằng:
- Bệ hạ nói câu ấy thật là có lòng thương dân, nhưng còn tôn miếu xã tắc thì sao ?
Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã !"


Vua rất tin dùng ông, giao cho tất cả quyền hành, nếu là kẻ dã tâm thì có thể cướp nước dễ như trở tay. Nhưng ông vẫn thủ phận làm tôi, hết lòng trung nghĩa.
Một hôm, ông hộ giá vua lánh giặc trên một con thuyền. Ông đứng hầu bên cạnh vua, trên tay có cây gậy đầu bịt sắt nhọn. Ông bèn tháo cái mũi sắt vứt đi để tỏ lòng ngay thẳng.
Một hôm khác, ông đem lời cha dặn hỏi thử các con.
Người con thứ 3 là Trần Quốc Tảng có ý xui ông cướp ngôi vua. Ông rút gươm toan chém.
Nhờ có người con lớn lạy lục năn nỉ, ông mới tha, nhưng đến chết ông không cho Quốc Tảng được thấy mặt.
Nhận xét: 
Nước còn nhà mới còn, nước mất nhà tan. Người anh hùng trọng việc nước nhẹ việc nhà.
(Theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

Lòng quyết chiến - Hội Nghị Diên Hồng.


Từ năm 1257, bị Trần Thủ Độ đánh bại, quân Mông Cổ suốt ngày đêm quyết rửa mối thù đó. Năm 1284, vua Nguyên sai Thoát Hoan cùng các tướng Toa Đô, Ô Mã Nhi với đạo hùng binh 500.000 quân, giả danh mượn đường đi đánh chiếm Chiêm Thành, nhưng thâm ý là để đánh úp quân ta.
Được tin giặc vượt biên thùy sang xâm chiếm nước ta, vua Trần Nhân Tông hội họp các tướng lãnh ở bến Bình Than để bàn kế chống giặc giữ nước.
Vua còn triệu tập các bô lão, sĩ phu có uy tín trong nước tại điện Diên Hồng để hỏi ý kiến và xem lòng dân muốn hòa hay đánh.
Các sĩ phu, bô lão đều một lòng kiên quyết chống xâm lăng. Nhà vua thấy lòng dân hăng hái và bất khuất nên an tâm lo chống giặc.
Sau hội nghị Diên Hồng, sĩ phu bô lão trở về khuyến khích con cháu, dân làng tham gia chống giặc. Thanh niên khắp nơi hăng hái rủ nhau ra đầu quân. Toàn dân trở nên một đạo quân cảm tử xung phong diệt giặc giữ nước. Năm mươi vạn quân Mông Cổ bị đánh tan tành. Chủ tướng và đám tàn quân chạy trối chết về nước.
Nhận xét :
Sự đoàn kết của một dân tộc đã tạo nên sức mạnh vô bờ bến.
(Theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)