Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Mười năm kháng chiến chống quân Minh – Lê Lợi


Lê Lợi người làng Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa, làm nghề nông, giàu có, hay giúp đỡ kẻ nghèo khó, nên mọi người đều kính phục.
Lúc bấy giờ nhà Minh đang cai trị nước ta, nghe tiếng ông rất được lòng dân, bèn cho sứ giả đến mời ông ra làm quan, nhưng ông một mực chối từ.
Ông thường nói với bạn bè: “Làm trai ở đời phải chống nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn thủa, tội gì lại chịu hạ mình làm đầy tớ người ta !”
Ông ngấm ngầm tích trữ lương thực, chiêu mộ binh sĩ đợi ngày ra tay giải thoát dân tộc khỏi vòng nô lệ của người Minh tàn bạo.
Năm 1418, được nhiều vị anh hùng đến giúp, ông phất cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn, tự xưng là Bình Định Vương.
Lúc đầu quân ít thế yếu, ông chịu nhiều nỗi gian lao khổ cực. Ba lần phải rút binh về ẩn núp ở Chí Linh thuộc tỉnh Nghệ An. Mấy phen thua trận chạy lên núi, đói khát phải đào củ chuối và hái rau ăn trừ bữa. Một lần bị quân địch bủa vây, nhờ Lê Lai lập kế trá hình, ông mới thoát chết. Một lần khác bị giặc rượt gấp, phải chạy bỏ cả gia đình. Tuy vậy, càng thua lại càng hăng hái, chớ không thối chí ngã lòng.


Sau, thế lực mạnh lên, ông thừa cơ thuận tiện đánh chiếm Nghệ An, Thanh Hóa rồi đem binh ra Bắc, vây chặt Vương Thông tại Đông Đô.
Nhà Minh sai dũng tướng Liễu Thăng đem binh sang cứu viện. Ông lập kế chém được Liễu Thăng ở Chi Lăng thuộc tỉnh Lạng Sơn. Quân Tàu đóng các nơi nghe tin hoảng sợ, tốp chạy trốn về xứ, tốp đầu hàng.
Sau khi dẹp tan giặc Minh, Lê Lợi sai Nguyễn Trãi soạn bài “Bình Ngô Đại Cáo”, báo cho dân chúng biết sự thắng trận vẻ vang của quân dân ta, rồi lên ngôi, hiệu là Lê Thái Tổ.
Nhận xét:
Với một lòng kiên nhẫn lạ thường trong cuộc chiến đấu vô cùng khó khăn vất vả, Lê Lợi đã bẻ cùm tháo xích cho giống nòi. Thực là một bậc đại anh hùng dân tộc.
(Theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2015

Ngâm thơ nuốt hận - Đặng Dung.


Lúc Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lòng người ly tán, vua nhà Minh bên Tàu thừa cơ hội sai Trương Phụ đem binh xâm chiếm nước ta. Muốn thị uy cho dân ta khiếp sợ, Trương Phụ đi đến đâu cũng giết người, cướp của, đốt nhà và làm nhiều điều tàn bạo.
Trước cảnh nước mất nhà tan, người dân khổ sở, những bật anh hùng hào kiệt các nơi mài gươm luyện kiếm để đánh đuổi kẻ xâm lăng.
Lúc bấy giờ có Đặng Tất là người tài giỏi ra giúp Giản Định Vương, con trai thứ của Trần Nghệ Tông. Ông đánh thắng giặc Minh nhiều trận lớn. Lòng quân phấn khởi, mọi người đang hy vọng chiếm lại kinh thành.
Nhưng Giản Định lại nghe lời gièm pha, nghi ngờ Đặng Tất mà bắt giết đi.
Con Đặng Tất là Đặng Dung chán nản vô cùng, nhưng vì lòng yêu nòi giống, ông đành dẹp bỏ thù cha mà lo rửa hận cho nước.


Không thể theo phò Giản Định nữa, ông bèn tôn cháu của Trần Nghệ Tông là Trần Quý Khoách lên làm vua (Trùng Quang Đế) để lo việc khôi phục đất nước.
Trương Phụ đem đại binh tiến đánh Quý Khoách. Đương đêm, Đặng Dung dùng binh đánh úp Trương Phụ, quyết lòng bắt sống, làm cho quân Minh bối rối phải thua.. Ông nhảy được vào thuyền Trương Phụ nhưng tiếc thay vì không biết mặt, để tướng giặc nhảy xuống được một chiếc thuyền trốn thoát.
Sau đó, vì yếu thế, Đặng Dung bị thua phải phò vua theo đường núi chạy sang Lào. Vua tôi bị người Lào phản phúc bắt nộp cho Trương Phụ. Trương Phụ cho giải cả về Tàu. Gữa đường, vua tôi không chịu nhục, đều nhảy xuống biển tử tiết.
Nhận xét:
Tráng sĩ Đặng Dung trọn đời đã đem hết tâm lực mình phụng sự đất nước. Nhưng đáng thương thay ! Hận nước chưa nguôi mà chí khí anh hùng phải tan theo mây khói, đúng như ý nghĩa của bài thơ cảm tác mà ông thích ngâm nga những lúc bất đắc chí:
 "Thù trả chưa xong đầu đã bạc
Dưới trăng bao độ tuốt gươm mài."
(Theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2015

Dâng sớ xin chém đầu bảy nịnh thần - Chu Văn An.


Chu Văn An người làng Quang Liệt tỉnh Hà Đông, thi đỗ Tiến sĩ đời nhà Trần. Tài học sâu rộng, tính khí cứng rắn ngay thẳng, ông không ham danh lợi chỉ mong làm tỏ rạng đạo thánh hiền.
Ông mở trường dạy học ở quê nhà, học trò theo học rất đông, người nào cũng hết lòng tôn kính. Nhiều người hiển đạt làm tới chức Tể tướng mà mỗi khi về thăm viếng, vẫn giữ lễ thầy trò đứng hầu nghe lời dạy bảo. Ai có điều gì không phải, ông lập tức quát mắng đuổi ra ngay.
Vua Trần Minh Tông nghe tiếng ông, cho triệu vào triều lãnh chức Tư nghiệp Quốc tử giám, kiêm dạy Thái tử.
Thật là bất đắc dĩ, ông phải từ giả nhà, về Kinh nhậm chức.


Đến khi Trần Minh Tông mất, vua Dụ Tông lên nối ngôi, việc nước trở nên rối ren. Dụ Tông ngày đêm say mê rượu chè, hát xướng, giao phó việc nước cho một bọn gian nịnh.
Bọn này mỗi ngày thêm hống hách, làm lắm điều bạo ngược, nhân dân ta thán, triều thần bất mãn, nhưng không có ai dám mở miệng can ngăn.
Vì lòng cương trực, Chu Văn An làm sớ dâng vua xin chém đầu bảy nịnh thần để cứu nước cứu dân. Nhưng vua Dụ Tông, trong lúc hôn mê, không hiểu được lời trung chánh, nên sớ "Thất trảm" của ông bị bỏ đi.
Ông bèn cởi áo từ quan về quê ẩn dật, việc đời gác bỏ ngoài tai, dạo chơi non nước, vui cùng cảnh vật thiên nhiên.
Sau, ông mất tại nhà, vua Trần Nghệ Tông sai quan đến tế, truy tặng là "Văn Trinh Công" và cho thờ trong văn miếu, ngang hàng với các bật tiên nho.
Nhận xét:
Chu Văn An là một bậc đại nho nêu gương trung nghĩa cho đời sau.
(Theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2015

Ông Trạng thanh liêm - Mạc Đĩnh Chi.


Mạc Đĩnh Chi người làng Lũng Động, tỉnh Hải Dương. Ông rất thông minh, văn hay, ứng đối giỏi. Năm 20 tuổi, ông thi Đình, văn đáng đỗ Trạng nguyên, nhưng vua Trần Anh Tông thấy người xấu xí, hình dáng loắt choắt như giống hầu, toan không cho đỗ.
Ông bèn dâng bài phú "Ngọc tỉnh liên" để tự ví mình với "Hoa sen trong giếng ngọc". Vua đọc xong, nhận là một bài văn thật hay mới cho ông đỗ và trọng dụng.
Trọn đời làm quan, ông giữ một lòng trung nghĩa với vua, công bình với cả mọi người. Lương bổng được bao nhiêu, ông đem về phân phát cho người thân quyến. Vì vậy, ông phò mấy triều vua, lên đến chức Tể tướng mà nhà rất thanh bạch. Từ triều thần đến dân gian, ai ai cũng ca tụng đức thanh liêm của ông.
Vua nghe tiếng, bèn sai người đêm khuya lén đem 10 quan tiền bỏ vào nhà ông. Sáng dậy, ông liền đem vào triều trình vua, tâu rằng không biết tiền của ai nên xin bỏ vào kho. Vua khen ngợi bảo: "Tiền ấy chính là của trẫm, khanh hãy lấy đi, trẫm thưởng tấm lòng thanh liêm của khanh đó".


Ông phụng mệnh đi sứ Tàu.
Vua quan nhà Nguyên nghe tiếng ông, bày ra nhiều cuộc thi phú để thử tài. Ông lúc nào cũng đối đáp trôi chảy, văn hay ý lạ, người Tàu thán phục.
Trong lúc đi sứ có một Công chúa mất, vua Tàu cử ông vào đọc văn tế. Đến lúc quỳ xuống cầm bản văn để đọc thì chỉ thấy một tờ giấy trắng có viết bốn chữ "Nhất" mà thôi.
Mạc Đĩnh Chi không nghĩ ngợi gì, đọc ngay lên một bài văn tế ý nghĩa thâm trầm:
"Thanh thiên nhất đóa vân,
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Ngọc uyển nhất chi hoa,
Giao trì nhất phiến nguyệt.
Y! Vân tán, tuyết tan, hoa tàn, nguỵêt khuyết !"
Vua quan Tàu cho ông là một bậc kỳ tài.
Nhận xét:
Ông Mạc Đĩnh Chi là một bậc Trạng tài cao học rộng, lại  là một quan thanh liêm có một không hai.
(Theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)