Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

Tổ chức chánh quyền.


Chính quyền là quyền điều khiển việc nước. Dưới thời phong kiến, chính quyền tập trung trong tay nhà vua. Ở các nước độc tài chuyên chính, mọi quyền hành đều do một cá nhân hay một đảng phái nắm giữ.
Ở các nước tự do dân chủ, chính quyền được tổ chức theo nguyên tắc "Tam quyền phân lập" giữa quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp. Sự phân quyền này rất cần thiết vì tránh được nạn độc tài, đảng trị.
1. Quyền Lập pháp.
Quyền lập pháp là quyền đặt ra các đạo luật mà toàn dân có bổn phận tuân theo. Ở một nước dân chủ, quyền lập pháp thuộc về nhân dân. Nhân dân bầu người tài đức đại diện cho mình giữ quyền lập pháp. Pháp luật do dân đặt ra mới không phản lại quyền lợi của dân, và như vậy mới thực sự dân chủ.
Quốc hội gồm những đại diện do dân bầu lên để giữ quyền lập pháp. Ở nước ta, quốc hội sẽ chia làm hai viện: Thượng nghị việnHạ nghị viện.
Quốc hội có nhiệm vụ soạn thảo Hiến pháp (Quốc hội lập hiến), biểu quyết các đạo luật, kiểm soát Chánh phủ và tham dự mọi hoạt động của quốc gia.
Muốn làm tròn nhiệm vụ trên, các Nghị sĩ và Dân biểu được hưởng quyền tự do phát biểu ý kiến và quyền bất khả xâm phạm.
"Quốc hội do dân bầu lên,
Vì dân tranh đấu giữ quyền lợi chung."


2. Quyền Hành pháp.
- Chánh phủ:
Quyền hành pháp là quyền thi hành những đạo luật do cơ quan lập pháp soạn thảo để điều khiển guồng máy quốc gia. Quyền hành pháp thuộc Chánh phủ. Đứng đầu Chánh phủ là Thủ tướng. Chánh phủ gồm nhiều bộ. Mỗi bộ do Bộ trưởng hay Tổng trưởng đảm trách điều hành mọi công việc trong phạm vi chuyên môn như Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục và Thanh niên...
- Tổng thống:
Theo Hiến pháp của nước ta, vị nguyên thủ quốc gia là Tổng thống có Phó Tổng thống phụ tá. Tổng thống và Phó Tổng thống đều do dân bầu lên theo thể thức phổ thông đầu phiếu.
Tổng thống chỉ định Thủ tướng thành lập Chánh phủ. Tổng thống và Dân biểu đều có thể đưa ra Quốc hội xem xét và biểu quyết các dự án luật. Nếu được Quốc hội chấp thuận, những dự án luật này sẽ được chuyển đến Tổng thống để duyệt y và ban hành.
Chánh phủ có nhiệm vụ thi hành những đạo luật ấy để điều hành mọi công việc quốc gia.


3. Quyền Tư pháp:
Quyền Tư pháp là quyền kiểm soát và bảo vệ luật pháp, xét xử những vụ vi phạm sinh mạng, tài sản, an ninh và trật tự quốc gia.
Quyền tư pháp thuộc về Tối cao Pháp viện và các Tòa án. Tòa án hoàn toàn độc lập đối với quyền hành pháp và quyền lập pháp, nghĩa là được toàn quyền xét xử theo công lý và lương tâm, không bị một áp lực nào chi phối. Có như vậy mới bảo vệ được quyền lợi chính đáng của người dân.
"Tòa án độc lập hoàn toàn,
Chẳng ai ỷ thế dám can thiệp vào."
Tư pháp phân biệt hai loại thẩm phán: thẩm phán xử án và thẩm phán công tố.
Thẩm phán xử án chuyên xét xử các vụ kiện. Thẩm phán công tố đại diện Chánh phủ buộc tội những kẻ vi phạm pháp luật để duy trì an ninh, trật tự công cộng.
Có ba cấp tòa án: Tòa Hòa giải rộng quyền, Tòa Sơ thẩm, Tòa Thượng thẩm. Ngoài ra còn có Tối cao Pháp viện. Tùy theo các vụ án, người ta chia ra nhiều loại tòa án: Tòa án Quân sự, Tòa án Lao động, Tòa án Hành chánh, Tòa án Thiếu nhi...
(Theo Tám môn yếu lược lớp Nhất - VNCH)

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

Tuyên cáo của Hội đồng Quân nhân Cách Mạng.


Quốc dân đồng bào,
Cuộc Cách mạng của toàn dân thành công trong vinh quang đã chấm dứt một chế độ độc tài, tàn bạo, bất lực.
Đứng trước sự thối nát của Chánh phủ, Quân đội nhận thức được sự cần thiết phải giải thoát đồng bào để tiến tới một chế độ dân chủ thực sự, nên Quân đội, dưới sự lãnh đạo của Hội đồng Quân nhân Cách Mạng, đã cương quyết vùng lên.
Vì sự tồn vong của tổ quốc, Quân đội đã phải làm Cách mạng và nhận lấy trách nhiệm nặng nề đó trước Quốc dân và Lịch sử.
Cuộc Cách mạng sở dĩ đã thành công không phải hoàn toàn do Quân đội mà phần lớn do sự đồng tâm nhất trí của toàn thể Quân dân trong nước.
Hiện tại, nhiệm vụ của chúng ta là ổn định tình thế và bình thường hóa đời sống Quốc gia.
Trong một tương lai rất gần đây khi các định chế dân chủ được thiết lập, Hội đồng Quân nhân Cách Mạng sẽ trao lại toàn quyền cho Quốc dân.
Quốc dân đồng bào hãy cùng chúng tôi siết chặt hàng ngũ, với tinh thần vô tư, chúng ta quyết tâm diệt Cộng, kiến Quốc.
Xin đồng bào hãy giúp chúng tôi.
(Theo Quốc Sử lớp Nhất - VNCH)
- Đọc thêm Wikipedia.


Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

Địa vị nước Việt Nam trên trường quốc tế.


Nước Việt Nam ở vào miền Đông Nam Á châu, chiếm một vị trí quan trọng về mặt giao dịch quốc tế. Nằm ngay trung tâm các đường thông thương giữa các nước Nhựt Bổn, Trung Hoa, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Nam Dương, Căm Bốt, Ai Lao, Thái Lan - nước Việt Nam còn là cửa ngõ đường hàng hải từ Âu châu sang Viễn Đông, và trạm nghỉ của các thương thuyền từ Mỹ, Úc sang Miến Điện, Ấn Độ.
Hơn nữa, có bờ biển dài hơn 2.500 cây số, với vịnh Cam Ranh sâu rộng kín đáo, nước Việt Nam là một bao lơn trông ra Thái Bình Dương - một vị trí chiến lược hảo hạng.
Việt Nam có rất nhiều nguồn lợi thiên nhiên.
Bình nguyên Nam phần và châu thổ Bắc phần là hai kho lúa gạo sung túc vào bậc nhất thế giới. Ngoài ra còn có những cánh rừng bao la với đủ các loại gỗ, những vùng đất đỏ mênh mông rất thích hợp với việc mở mang đồn điền cao su, những cao nguyên rộng lớn rất thuận tiện cho việc khuếch trương nghề chăn nuôi.
Về khoáng sản, ở Hòn Gai, Đông Triều có mỏ than vô cùng phong phú, và rải rác ở Thái Nguyên, Yên Bái, Cao Bằng, Lào Cai có mỏ sắt, mỏ chì mỏ kẽm, mõ đồng, mỏ bạc, mỏ uranium - chất sản xuất nguyên tử lực.


Dân tộc Việt Nam có một sức sống mãnh liệt. Lúc ban sơ, dân tộc Việt Nam chỉ là một nhóm người sanh sống ở vùng châu thổ Nhị Hà. Bị người Trung Hoa đông gấp trăm lần thống trị ngót ngàn năm, cả nòi giống cơ hồ như bị đồng hóa.
Thế mà dân tộc Việt Nam chẳng những đã bẻ gãy được ách đô hộ của Bắc phương, lại còn bành trướng xuống phía Nam, tạo thành ra một giang sơn gấm vóc chạy dọc từ ải Nam Quan đến tận mũi Cà Mau.
Trong công cuộc chống Bắc tiến Nam, người dân Việt Nam lúc nào cũng tỏ ra kiên nhẫn phi thường và rất giàu sáng kiến. Chí kiên nhẫn ấy, óc sáng kiến ấy gần đây lại càng rõ rệt trong cuộc đấu tranh để tự vệ ngót trăm năm với nước Pháp, một cường quốc Âu Tây.
Với vị trí ưu đãi, tài nguyên dồi dào, dân tộc đầy năng lực, nước Việt Nam có đủ yếu tố để trở nên giàu mạnh và giữ một địa vị ưu thế trên trường quốc tế.
(Theo Quốc Sử lớp Nhất - VNCH)

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

Một học giả uyên thâm - Trương Vĩnh Ký.


Trương Vĩnh Ký, người làng Vĩnh Thạnh, tỉnh Kiến Hòa, sanh năm 1837, mất năm 1898.
Ông là bậc kỳ tài có một không hai của nước Việt Nam. Ông thông thạo chữ Hán, chữ Quốc ngữ và biết rành nhiều tiếng ngoại quốc như Pháp, Anh, Hy Lạp, La tinh, Y Pha Nho, Bồ Đào Nha, Lào, Nhựt Bổn.
Khi Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp để xin chuộc ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, ông theo làm thông ngôn, được nhiều danh nhân Pháp rất mến phục.
Lúc về nước, ông làm giáo sư rồi được sung vào Cơ mật viện giúp việc giao thiệp giữa triều đình Huế và Soái phủ Pháp ở Saigon. Nhưng vì hai bên Việt và Pháp nghi kỵ mãi nhau nên nhiệm vụ của ông thật là khó khăn, phiền phức.
Không buộc mình trong vòng công danh phú quý, ông chỉ mong đem sự hiểu biết của mình mà bồi đắp nền văn học nước nhà.
Ông quản nhiệm tờ báo đầu tiên trên đất Việt là tờ Gia Định Báo, với ý định truyền bá chữ Quốc ngữ và cổ động tân học.


Ông chép những thơ truyện chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên, Lục súc tranh công, Đại Nam quốc sử diễn ca,v.v...
Ông dịch các sách chữ Hán ra quốc âm để bảo tồn đạo lý của Đông phương.
Ông tham khảo sách vở Âu Tây, soạn ra sách bằng tiếng Việt để phổ biến trong dân chúng những điều hay lạ của các cường quốc.
Ông lại còn làm nhiều sách dạy tiếng ngoại quốc như Pháp, Tàu.
Số sách của ông soạn thảo có hơn 100 quyển gồm đủ các loại giáo khoa, lịch sử, địa lý, cách trí, giải trí, từ điển.
Nhận xét:
Trương Vĩnh Ký là một học giả uyên thâm có công truyền bá chữ Quốc ngữ làm cho nền văn học Việt Nam càng ngày càng phong phú.
(Theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)


Bài đọc thêm:
Tuyệt bút
"Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai, 
Xô đẩy người vô giữa cuộc đời. 
Học thức gửi tên con mọt sách, 
Công danh rốt cuộc cái quan tài. 
Dạo hòn, lũ kiến men chân bước, 
Bò xối, con sùng chắt lưỡi hoài ! 
Cuốn sổ bình sanh công với tội, 
Tìm nơi thẩm phán để thừa khai."
(Bài thơ cụ Trương Vĩnh Ký viết trước khi tạ thế)