Thứ Tư, 7 tháng 1, 2015
Trận Bạch Đằng - Trần Hưng Đạo.
Sau hai phen thua to, nhà Nguyên lại sai Thái tử Thoát Hoan đem 30 vạn quân sang đánh nước ta để báo thù.
Lúc đầu, thế giặc rất hăng, Trần Hưng Đạo rước vua về Thanh Hóa, rồi chia quân trấn giữ mọi nơi. Quân Nguyên cố đánh dữ nhưng nơi nào cũng không tiến chiếm nổi.
Được ít lâu, đoàn thuyền vận lương của giặc bị Trần Khánh Dư đón cướp mất hết tại Vân Đồn. Được tin ấy quân Nguyên núng thế, Thoát Hoan sợ thảm bại nên quyết định rút binh theo ngả sông Bạch Đằng.
Trần Hưng Đạo biết trước, hội chư tướng bàn kế phá giặc cho không còn manh giáp. Ông mật sai Nguyễn Khoái dẫn binh đi đường tắt đến bờ sông Bạch Đằng lấy cọc gỗ đẽo nhọn đầu và bọc sắt rồi đóng khắp giữa lòng sông.
Các tướng lại được lệnh khi gặp thuyền giặc thì xông ra đánh rồi giả thua, dụ qua chỗ có cọc, đợi khi nước rút, sẽ quay lại đánh mạnh. Đó cũng là mưu kế mà Ngô Quyền đã dùng để diệt quân Nam Hán khi trước.
Đoàn thuyền Mông Cổ đang tiến tới đông chật trên sông Bạch Đằng. Thừa lúc nước thủy triều lên, Nguyễn Khoái thả thuyền nghênh chiến, rồi bỏ chạy theo dòng nước.
Giặc tung hết quân đuổi theo, qua khỏi chỗ đóng cọc một đỗi xa thì nước vừa rút xuống. Quân ta quay lại đánh thật hăng. Bấy giờ đạo binh của Hưng Đạo Vương cũng kéo đến tiếp chiến. Quân Nguyên thấy thế nguy bèn quay thuyền chạy. Thuyền vướng phải cọc nghiêng đổ, chìm gần hết.
Hai bên bờ sông, quân ta mai phục sẵn xông ra bắn xuống như mưa. Quân Nguyên đại bại, thây đầy sông, máu nhuộm đỏ nước.
Trần Hưng Đạo đại thắng, đoạt được 400 chiến thuyền và bắt sống hầu hết các tướng Tàu, trong đó có Ô Mã Nhi là tướng lợi hại và ác độc nhất.
Thoát Hoan nghe thủy binh tan vỡ, theo đường bộ chạy trốn về xứ.
Nhận xét :
Sông Bạch Đằng là con sông lịch sử, hai phen chứng kiến quân ta đại phá quân xâm lăng để bảo vệ nền độc lập của nước nhà.
(Theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)
Thứ Ba, 6 tháng 1, 2015
Anh hùng tí hon - Trần Quốc Toản.
Quân Mông Cổ hùng hổ kéo sang quyết đánh chiếm cho được nước ta. Vua Trần Nhân Tông ngự thuyền tại bến Bình Than, nay thuộc tỉnh Hải Dương, triệu tập các vương hầu và chư tướng để bàn mưu chống giặc giữ nước.
Trong tôn thất có một thiếu niên anh dũng tên là Trần Quốc Toản tước Hoài Văn Hầu bấy giờ mới có 16 tuổi cũng có mặt tại hội nghị. Nhưng vì còn trẻ, Quốc Toản chỉ được phép đứng nghe mà không được bàn cãi.
Cậu bé lấy làm tức tối, mặt đỏ bừng, răng nghiến chặt, trong tay đang cầm trái cam mà bóp giẹp lúc nào không biết.
Quốc Toản lặng lẽ ra về, kêu gọi những bạn bè, những người thân thuộc, sắm sửa khí giới , họp thành một toán quân riêng. Ông cho thêu một lá cờ to đề sáu chữ: "Phá cường địch, báo hoàng ân" rồi xuất quân tìm giặc đánh phá.
Mỗi khi ra trận, Quốc Toản đều đi đầu quân sĩ, xông pha tên đạn như vào chỗ không người. Giặc Mông Cổ hễ thấy ở đâu là phải lẩn tránh, chớ không dám chống chọi trước sức tấn công dũng cảm của Quốc Toản.
Vua thấy ông quá can đảm và hăng hái, phải phong cho làm phó tướng.
Quốc Toản theo Trần Nhật Duật đem binh đón đường quân giặc ở mặt Hải Dương, đến bến Hàm Tử thì gặp chiến thuyền của Toa Đô. Nhật Duật và ông phân binh ra đánh thật dữ dội.
Quân Nguyên thua to, chết hại rất nhiều. Toa Đô chạy thoát.
Kế đó, ông lại theo Trần Quang Khải đem quân đến bến Chương Dương đánh phá chiến thuyền của Thoát Hoan. Quân ta đánh hăng quá, quân Nguyên chống không nổi đành bỏ chạy. Quân ta đuổi theo và lấy lại được thành Thăng Long.
Trận Hàm Tử Quan và trận Chương Dương Độ là hai trận thắng lừng lẫy, danh tiếng lưu truyền mãi mãi.
Nhận xét:
Cái chí và cái tài của các bậc anh hùng không đợi tuổi mới lộ ra.
(Theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)
Thứ Hai, 5 tháng 1, 2015
Trần Bình Trọng - Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.
Trần Bình Trọng vốn dòng dõi vua Lê Đại Hành. Từ đời Trần Thái Tông, vì ông cha có công lớn, nên ông được đổi sang họ Trần.
Ông là người tài giỏi và trung nghĩa, vua phong là Bảo Nghĩa Vương. Khi quân Nguyên xâm chiếm nước ta lần thứ 2, ông lãnh ấn Tiên phong, ngăn giặc tại vùng biên thùy.
Lúc đầu thế giặc rất mạnh, binh ta phải lui khắp các nơi.
Sau khi thành Thăng Long thất thủ, vua dời đô về Thanh Hóa, giao cho Bình Trọng trấn giữ Thiên Trường thuộc tỉnh Nam Định để chặn đường tiến quân của giặc.
Quân Nguyên đem đại binh đến vây đánh, ông chống cự rất hăng, nhưng vì quân ít thế cô, ông bị thua và bị giặc bắt sống giải đến tướng Nguyên là Thoát Hoan.
Thoát Hoan biết ông là một dũng tướng, muốn khuyên dỗ về hàng, nên đối đãi với ông rất tử tế. Giặc sai người dọn cỗ thiết đãi, ông nhất quyết không ăn. Giặc hỏi han, ông ngồi im không thèm đáp. Giặc dọa nạt, ông vẫn thản nhiên.
Sau cùng, Thoát Hoan đem mồi phú quý dụ ông:
- "Tướng quân hãy về hàng ta đi, rồi sẽ được phong làm vương đất Bắc.
Bình Trọng nổi giận quát lên rằng:
-"Ta thà làm quỷ nước Nam chớ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì chỉ còn lấy cái chết để đền nợ nước mà thôi !"
Thoát Hoan biết không thể dụ ông được, nên sai quân đem chém.
Người trong nước nghe tin, ai cũng thương xót và kính phục.
Khi bình xong giặc Nguyên, vua truy tặng ông rất hậu và sai người dựng đền thờ.
Nhận xét:
Thà chết vinh chớ không chịu sống nhục, Trần Bình Trọng đã nêu gương trung liệt cho muôn đời.
(Theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)
Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015
Nỗi đau khổ của dân Việt trong thời đại Bắc thuộc.
Xưa người Tàu cai trị độc ác thế nào, điều ấy ai cũng biết.
Nhưng có gì làm cho người ta chóng giác ngộ bằng đau khổ ? Mà dân tộc VN lúc bấy giờ đã đau khổ đến cùng cực, phần thì bị người Tàu bóc lột, phần thì bị người Nam Chiếu từ Tây Bắc đánh xuống, người Lâm Ấp trong Nam đánh ra.
Những năm sử cũ không chép điều gì chính là những lúc nhân dân im hơi lặng tiếng, nhẫn nhục qua ngày; rồi đến khi không kham, nổi dậy lên, để mà bị đàn áp một cách dã man.
Những nỗi đau khổ ấy, ngày nọ sang ngày kia, làm cho người Việt lần lần tha thiết yêu mảnh đất đã tưới biết bao nhiêu mồ hôi máu lệ của họ.
Họ thấy cần chung lưng đấu cật với nhau, cần hợp sức lại mới giành được quyền tự chủ, quyền sống trên mảnh đất này.
Nỗi lòng thương đất nước nòi giống, tinh thần quốc gia được cùng với thời gian hun đúc thêm, củng cố thêm, nhất là sau khi những anh hùng đã để lại nhiều kỷ niệm xán lạn huy hoàng. Sau hai bà Trưng có bà Triệu, các ông Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan...
(Theo Việt Sử khảo lược - Dương Kỵ)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






