Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

Miền Bắc khởi nghĩa - Nguyễn Thiện Thuật.


Nguyễn Thiện Thuật là người xã Xuân Dực, tỉnh Hưng Yên. Lúc thiếu thời, ông nổi tiếng văn hay võ giỏi. Lớn lên ông thi đỗ Cử nhân, ra làm quan đời vua Tự Đức. Ông được bổ chức Tán tương Quân vụ, nên người ta gọi ông là Tán Thuật.
Sau khi kinh thành Huế thất thủ, ông cởi áo từ quan, về lập chiến khu ở Bãi Sậy Hưng Yên) để chống Pháp.
Bãi Sậy là một chiến khu vô cùng hiểm trở với những ao đầm sâu rộng, những lau sậy um tùm, những đường hầm chằng chịt đào sâu dưới đất. Lối vào là một con đường nhỏ hẹp, quanh co đầy cạm bẩy. Ông lại được Đề đốc Tạ Hiện và nhiều văn thân theo giúp bày vẽ mưu kế và tập luyện binh sĩ.
Nguyễn Thiện Thuật liên kết với các nhóm nghĩa binh ở vùng lân cận, nay đánh thành này, mai phá đồn nọ, làm cho Pháp phải tổn thất nặng nề.


Pháp nhiều lần cất binh đến đánh, nhưng lần nào cũng hao binh mất súng, mà không phá nổi chiến khu. Quân Pháp gọi ông bằng danh hiệu "Vua Bãi Sậy".
Pháp cho người viết thơ dụ hàng, ông không trả lời. Pháp sai Tổng đốc Hải Dương là Hoàng Cao Khải đi đánh dẹp. Biết rõ địa thế, Hoàng Cao Khải cất đại binh đến bủa vây chung quanh Bãi Sậy, lập nhiều đồn ải cắt đứt các đường tiếp tế lương thực rồi cho quân xông vào đánh. Hai bên đánh nhau dữ dội, chết hại rất nhiều. Sau cùng hết đạn, nghĩa binh tan rã. Nguyễn Thiện Thuật chạy sang Tàu rồi bệnh chết ở bên ấy.
Nhận xét:
Tán Thuật đã nêu cao lòng hy sinh và chí bất khuất của dân tộc Việt Nam.
(theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2015

Miền Bắc khởi nghĩa - Hoàng Hoa Thám.


Hoàng Hoa Thám người phủ Yên Thế tỉnh Bắc Giang, theo Cai tổng Hoàng Đình Kinh (Cai Kinh) đánh nhau với quân Pháp từ lúc 20 tuổi. Ông được phong làm Đề đốc, nên người đương thời gọi là Đề Thám.
Sau khi Cai tổng Kinh thất bại, Đề Thám vào Hà Tịnh xin cộng tác với Phan Đình Phùng. Nhưng cụ Phan Đình Phùng khuyên ông hãy về Bắc hoạt động để gây thêm ảnh hưởng cho phong trào khởi nghĩa.
Đề Thám bèn về đất Bắc lập chiến khu ở Yên Thế.
Chiến khu này là một vùng rộng mênh mông toàn là núi cao rừng thẳm, cây to cỏ rậm, lối đi quanh co gập ghềnh đầy cạm bẩy. Đồn trại xây dựng ở những nơi hiểm yếu và có đào đường hầm ăn thông với nhau. Nơi nào cày cấy được, quân lính làm ruộng để lấy lương thực. Còn súng đạn thì mua tận bên Tàu do một con đường bí mật đem vào.
Từ chiến khu, Đề Thám thường bất thình lình xua quân đánh tỉa các đồn giặc lẻ tẻ, hoặc phục kích các đội binh đi tuần tiễu để cướp giật vũ khí.


Có một đêm, ông kéo nghĩa quân về đột kích Hà Nội, tuy không thành công nhưng cũng làm cho quân Pháp kinh hồn hoảng vía.
Những khi quân Pháp đến đánh phá chiến khu, ông dụ chúng vào sâu trong rừng núi, rồi đem binh đánh bọc hậu làm cho chúng đại bại. Ngót 30 năm trời, Pháp tổn hại rất nhiều.
Thật là oai danh "Hùm thiêng Yên Thế" lừng lẫy trong xứ.
Sau, Pháp dùng quỷ kế mướn tên khách Lương Tam Kỳ cho thủ hạ đến nhập đảng ông, rồi thừa lúc ông ngủ ám sát ông.
Nhận xét:
Nhờ có dũng cảm và mưu trí, lại thêm cương quyết và kiên nhẫn, Hoàng Hoa Thám là một vị lãnh đạo nghĩa quân đã chống cự với quân Pháp lâu dài và kịch liệt nhất.
(Theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)


Bài đọc thêm:
Rừng xanh vùng vẫy.
Yên Thế ! Một nơi hiểm trở rừng xanh nước độc, đầy thú dữ và lau sậy. Cảnh Yên Thế đã hiện ra chứa chan những sự bí mật hãi hùng, ai nghe nói cũng phải rùng mình. Cây leo cỏ rậm, suối cả đèo cao, núi rừng Yên Thế rất khó qua lại cho những người mới từ nơi khác lạc lối tiến vào.
Trong những khu rừng rậm rạp, những đèo đá chập chờn thường có bóng người lúc ẩn lúc hiện như những bóng ma trơi.
Đêm đến, cảnh Yên Thế lại càng bí mật lạnh lùng. Thỉnh thoảng chúa rừng xanh lại cao đưa mấy tiếng gầm vang, thế là muôn loài lại im hơi lặng tiếng trong hang sâu hay bụi cỏ.
Dựa vào địa thế thiên nhiên hiểm trở, một thủ lãnh Cần vương đã tụ tập đồng chí chiếm cứ là chúa tể cả một miền này ngót 30 năm trời.
Người ấy là Hoàng Hoa Thám.
(Theo Huyền Quang - Đề Thám)

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

Miền Trung khởi nghĩa - Mai Xuân Thưởng.


Mai Xuân Thưởng sanh ở làng Phú Lạc tỉnh Bình Định, nơi phát xuất ba vua Tây Sơn. Cha mất sớm, ông rất chăm lo học tập nghề văn nghiệp võ và thường giao du với các bậc nghĩa khí trong hạt nhà. Ông rất thông minh, học ít hiểu nhiều, thi đỗ Cử nhân năm 25 tuổi.
Gặp lúc quân Pháp chiếm kinh thành Huế, vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Bình truyền hịch Cần Vương, ông về quê nhà dựng cờ khởi nghĩa. Người yêu nước theo ông rất đông. Ông cho xây đắp đồn lũy, tích trữ lương thực, luyện tập binh sĩ.
Danh tiếng ông vang lừng khắp Nam - Trung - Bắc, làm cho Pháp phải lo sợ.
Bên quân Pháp thì súng trường, đại bác. Bên nghĩa binh của ông chỉ có giáo mác, gươm đao. Thế nên nghĩa binh thường dùng cách đánh giáp lá cà, làm cho quân Pháp nhiều phen thất bại.
Xong trận này, ông bày trận khác, thắng thì hăng hái đã đành, mà thua ông vẫn một lòng hăng hái. Vì vậy, quân Pháp đánh mãi mà thế lực ông cũng không nao núng.


Sau, viện binh của Pháp từ Gia Định kéo ra, do Trần Bá Lộc dẫn đường chỉ lối. Ông dàn binh đánh một trận kịch liệt nhưng vì địch quá mạnh, ông phải thua to.
Mai Xuân Thưởng rút quân vào núi, quân Pháp tìm mãi không được. Trần Bá Lộc bày kế bắt dân làng ông và mẹ ông đem hành hạ. Ông phải ra mặt để cứu mẹ và dân làng.
Lộc dụ ông hàng, ông đáp:
"Chỉ có Đoạn đầu tướng quân chớ không có Hàng đầu tướng quân !".
Lộc đưa ông ra pháp trường. Ông không thay đổi nét mặt, xây về phía Bắc lạy năm lạy đền nợ nước, xây về phía Tây lạy bốn lạy từ giả mẹ già, rồi ung dung chịu chết.
Nhận xét:
Mai Xuân Thưởng đã treo gương thanh niên anh dũng chống xâm lăng.
"Đem thân đền nợ nước non,
Còn non còn nước, hãy còn tiếng thơm."
(Theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2015

Miền Trung khởi nghĩa - Đinh Công Tráng.


Hưởng ứng phong trào chống Pháp ở miền Trung, Đinh Công Tráng là người có tài thao lược đứng ra xây chiến lũy Ba Đình, thuộc tỉnh Thanh Hóa, để chặn đường tiếp tế của quân Pháp từ Bắc vào Trung.
Chiến lũy xây trên địa phận ba làng Mỹ Khê, Mậu Thịnh và Thượng Thọ, giữa một khu ruộng lầy thật rộng, bên cạnh có một con sông chảy từ Thanh Hóa ra Ninh Bình.
Từ chiến lũy, Đinh Công Tráng thường xuất binh đột kích làm cho quân Pháp tổn thất lớn lao về quân lính, cũng như về vũ khí và lương thực.
Người Pháp thấy chiến lũy Ba Đình rất lợi hại, nên nhất quyết đánh phá cho được.
Chúng kéo quân đội từ hai tỉnh Thanh Hóa và Nam Định đến tấn công, nhưng bị thất bại nặng nề rồi phải rút lui. Sau , Pháp huy động đến 4.000 quân, lối 100 sĩ quan và 4 chiến hạm đầy đủ súng ống, bắn vào như mưa. Chiến lũy Ba Đình vẫn trơ trơ, không nao núng. Quân Pháp lại thêm một phen thảm bại.


Sau cùng, Pháp phải đem hết lực lượng quân sự ngoài Bắc đưa vào bao vây các mặt.
Đại bác nhả đạn long trời lở đất, quân cảm tử xông vào. Quân ta chống cự mãnh liệt. Hai bên chết hại rất nhiều. Sau 16 ngày đánh nhau vô cùng thảm khốc, chiến lũy mới bị vỡ.
Đinh Công Tráng chạy về đồn Mã Cao (Thanh Hóa) tiếp tục kháng chiến. Quân Pháp kéo đến đánh, quyết hạ cho được đồn. Cuộc đánh nhau thật quyết liệt, quân sĩ hai bên tử nạn nằm ngổn ngang trên chiến địa.
Sau rốt, quân ta hết đạn phải bỏ thành trì.
Đinh Công Tráng đem tàn quân lẩn tránh trong làng xã. Một lý trưởng phản bội chỉ chỗ ẩn núp của ông cho Pháp đang đêm đến vây bắn. Ông trúng đạn chết.
Nhận xét:
Nhờ chiến lũy Ba Đình, Đinh Công Tráng đã lập nên một trong những võ công oanh liệt bậc nhất trong công cuộc chống Pháp.
(Theo Quốc Sử lớp Ba - VNCH)